Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

Đỉnh của giá vàng sẽ là 6.000 USD/ounce?

Giá vàng tuần qua có thời điểm vượt ngưỡng 1.900 USD/ounce, sau đó điều chỉnh giảm. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, chưa có dấu hiệu cho thấy giá vàng "bong bóng" và sẽ sụt giảm mạnh, khi nhiều ngân hàng trung ương tiếp tục tăng cung tiền. Ngân hàng Trung ương Anh cũng đang bắt đầu mua vào trái phiếu khi sự hồi phục kinh tế yếu đi.
"Tôi không cho rằng giá vàng đã bong bóng. Khi bạn mua vàng, đó là công cụ bảo hiểm tuyệt vời đối với các vấn đề và thất bại mang tính hệ thống trong các thị trường tài chính", Marc Faber, một nhà đầu tư vàng nổi tiếng trả lời phỏng vấn của Bloomberg.
Vàng đã bước vào năm thứ 11 tăng giá liên tiếp, mức tăng dài nhất kể từ năm 1920, trước các dấu hiệu bất ổn từ khủng hoảng nợ công và hồi phục kinh tế ốm yếu. Chỉ riêng trong năm 2011, giá vàng đã tăng hơn 33%.
Urs Gmuer, nhà quản lý tài sản tại Công ty tư vấn đầu tư Dolefin cho rằng, vàng có thể tăng tiếp và đạt đỉnh 6.000 - 6.200 USD/ounce, vượt xa tất cả các thị trường tăng điểm khác. Dự báo của Gmuer dựa trên phân tích đợt bùng nổ giá vàng gần đây trong thập kỷ 1970, khi mà giá vàng tăng từ 35 USD/ounce năm 1971 lên 850 USD/ounce năm 1980.
Gmuer nói rằng, trong đợt tăng giá vàng hiện nay, giá vàng có thể được đẩy lên cao trong một giai đoạn kinh tế đầy khó khăn, có thể kéo dài nhiều năm và nhà đầu tư sẽ tiếp tục tìm kiếm cái gọi là nơi trú ẩn an toàn. Vàng đã bước vào "siêu chu kỳ" tăng giá như đã từng xảy ra với bong bóng công nghệ trong giai đoạn 1998 - 2000.
"Giá vàng đã tăng trong vài năm qua, khi bức tranh kinh tế đang tệ đi và tình hình hiện tại thậm chí còn tệ hơn. Sức mua của nhà đầu tư vàng sẽ là sự hoảng sợ trước các rủi ro hệ thống về các cú sốc ngân hàng", Gmuer nói.
Hiện tại, không có gì là an toàn, nhà đầu tư thận trọng không có lựa chọn nào khác ngoài việc đổ xô vào kim loại quý. "Đồng tiền duy nhất, vốn đã vượt qua thời gian, chính là vàng. Không ai có thể in vàng như máy in tiền", Gmuer nhấn mạnh.
Ngoài ra, một số tính toán khác cho thấy, mức đỉnh của giá vàng sẽ nằm trong khoảng 3.500 - 4.000 USD/ounce, dựa trên dữ liệu lịch sử trong dài hạn giữa giá vàng và nguồn cung tiền.
Tháng 1/1980, giá vàng đạt đỉnh 850 USD/ounce, tương đương 2.430 USD/ounce dựa trên giá trị đồng USD ngày nay. Giá vàng đã tăng 2.400% từ 35 USD/ounce năm 1971 lên 850 USD/ounce năm 1980, liệu giá vàng có lập lại kỳ tích như vậy để tăng từ 250 USD/ounce năm 2000 lên 6.000 USD/ounce trong thời gian tới?
Sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, đồng USD được cho là có thể hoán đổi với vàng ở mức giá 35 USD/ounce. Nhưng người Pháp lo lắng rằng, để chi trả cho phúc lợi xã hội và các chi phí khác, nước Mỹ sẽ phải in thêm USD và Pháp quyết định bán USD để giữ vàng. Các Ngân hàng Trung ương Bỉ, Hà Lan, Đức và thậm chí cả Anh cũng đều làm như vậy và giá vàng đã bị đẩy lên mức 850 USD/ounce vào năm 1980, từ mức 35 USD/ounce năm 1971.
Ngày nay, Trung Quốc là nước đầu tiên lo lắng về đồng USD và gia tăng dự trữ vàng. Nước Nga tiếp bước Trung Quốc và Ấn Độ cũng mua 200 tấn vàng từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
"Vàng đang 'sủi bọt', nhưng việc Ấn Độ mua vàng của IMF ngày nay cũng giống như Pháp mua vàng cuối thập kỷ 1960. Khi mà các ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục là người mua ròng vàng trở lại từ năm 1988, liệu Ấn Độ đã 'bắn phát súng' đầu tiên như Pháp từng làm năm 1965?", Dylan Grice, một nhà phân tích của Société Générale nói.
Với việc các ngân hàng trung ương ngày nay in tiền quá mức, họ đang tạo ra rủi ro phá hoại niềm tin tương tự như thập niên 1980. Do đó, nếu vàng buộc phải tăng lên mức phản ánh số lượng USD, giá vàng bao nhiêu là hợp lý?
Grice cho rằng, mức giá 6.300 USD/ounce là hợp lý. Với 260 triệu ounce vàng nước Mỹ đang nắm giữ và cơ sở tiền của Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) là khoảng 1.700 tỷ USD và vẫn đang tiếp tục in, rất có thể giá vàng sẽ đạt 6.538 USD/ounce.
Mặc dù không ít người đang nghĩ về mức giá đó, nhưng không có gì đảm bảo là điều đó sẽ xảy ra hoặc nó sẽ xảy ra khi nào. Có thể sẽ mất nhiều năm nữa, nhưng nhiều ý kiến cho rằng, bây giờ không phải là lúc giá vàng bong bóng và sẽ vỡ.

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

Fed đã ngầm cứu trợ các ngân hàng ở Mỹ và châu Âu

FED đã bí mật sử dụng tới 16.000 tỷ USD để cứu trợ các ngân hàng ở Mỹ và châu Âu trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới đây.

Các thanh tra tài chính độc lập của Văn phòng Kiểm toán Chính phủ Mỹ (GAO) đã phát hiện Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ (FED) bí mật sử dụng tới 16.000 tỷ USD để cứu trợ các ngân hàng ở Mỹ và châu Âu trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới đây.

Phát hiện này đã làm tăng nghi ngờ về các hoạt động không minh bạch của hệ thống ngân hàng Trung ương của Mỹ.

Đa số các khoản cho vay khẩn cấp này được lấy từ FED bang New York. Quy mô và tính chất của sự trợ giúp này cho thấy sự mở rộng chưa từng thấy vai trò truyền thống của hệ thống FED như là người cứu trợ cuối cùng các thể chế tài chính đang trong tình trạng nguy hiểm.

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

VN chưa yên tâm về cam kết của Mỹ

Tháng Tám vừa qua chứng kiến nhiều hoạt động chung giữa quân đội Việt Nam và Hoa Kỳ, đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ giữa hai nước.

Hãng tin Bloomberg nhân đây có bài phân tích sự phát triển trong quan hệ Việt-Mỹ, chúng tôi xin lược trích giới thiệu cùng quý vị.

Bài báo bắt đầu bằng lời giới thiệu về tân bộ trưởng ngoại giao Việt Nam, ông Phạm Bình Minh, mà người cha là cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch (tên thật Phạm Văn Cương) được nói "đã chiến đấu đánh đuổi Mỹ khỏi Việt Nam".

Ông Minh, 52 tuổi, nay "đang hết sức nỗ lực nhằm nâng sự quan tâm và tham gia của quốc gia cựu thù".

Bloomberg nhận xét Việt Nam muốn có sự hiện diện của Mỹ vì lý do kinh tế và làm đối trọng với Trung Quốc, cường quốc trong khu vực.

Hãng này dẫn lời ông Phạm Bình Minh nói:"Không ai có thể tưởng tượng được là quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam lại phát triển nhanh như thế này".

"Sau 16 năm bình thường hóa quan hệ, chúng ta đã tiến tới giai đoạn phát triển nó trên mọi lĩnh vực."

Một điều đáng chú ý là, theo Bloomberg, trong khi Mỹ còn chưa xóa hết nỗi đau chiến tranh, thì người Việt Nam, vốn bị thiệt hại nhiều hơn, lại giang tay chào đón kẻ thù cũ.

'Cần nhất quán hơn'
Hợp tác kinh tế Việt-Mỹ tiến triển đáng kể, Hoa Kỳ đã trở thành nước nhập khẩu hàng Việt Nam lớn nhất thế giới.

Hai bên cũng tăng cường trao đổi quân sự, với nhiều chuyến viếng thăm của tàu chiến và quan chức quốc phòng Mỹ tới Việt Nam.

Bộ trưởng Phạm Bình Minh nói hai bên đang thảo luận việc thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược lên tầm cao mới, "tích cực cho sự ổn định trong khu vực" và theo đúng "lập trường đa phương của Việt Nam".

Ông bộ trưởng khẳng định điều này không nhằm vào Trung Quốc, nhưng giới quan sát nói cả hai yếu tố là đa phương hóa và khuyến khích hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực chắc chắn đều không thể làm Bắc Kinh vui lòng.

Việt Nam có lịch sử nhiều lần xung đột với Trung Quốc, nhưng Hà Nội biết rằng không thể tránh được số phận láng giềng và luôn mong muốn giữ hòa khí với siêu cường quốc ở cạnh bên.

Thế nhưng, quan hệ với Hoa Kỳ cũng không kém phần phức tạp.

Bloomberg cho rằng Việt Nam chưa thực sự an tâm về cam kết của Mỹ tại Á châu trong tương lai, và giới chức Việt Nam đã đôi lần than phiền chốn riêng tư rằng khu vực Đông Nam Á không thực sự nằm trong các ưu tiên hàng đầu của Hoa Kỳ.

Trong một cuộc phỏng vấn dài một tiếng đồng hồ hôm 21/07, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Obama, Thomas E. Donilon, nói nhiều về Trung Quốc nhưng không nhắc tới Việt Nam một lần nào.

Bộ trưởng Phạm Bình Minh được trích dẫn trên bài báo nói ông muốn thấy "sự nhất quán hơn" trong chính sách của Hoa Kỳ, và rằng Washington cần chú ý hơn tới Đông Nam Á.

Một trong các điểm khác biệt gây căng thẳng giữa đôi bên là chính sách của Việt Nam về nhân quyền và tự do chính trị.

Bloomberg nhận định rằng dù sao, hồ sơ nhân quyền của Việt Nam vẫn tốt hơn của Trung Quốc. Thế nhưng sự thật là, với quy mô dân số và nền kinh tế nhỏ hơn gấp bội, Việt Nam sẽ luôn luôn bị đối xử khác với Trung Quốc.

Mỹ cũng cần đồng minh
Một số dân biểu Mỹ, vốn quan ngại về sự hung hăng ngày càng tăng của một nước Trung Quốc ngày càng tự tin, cho rằng Mỹ cần quan hệ đồng minh thân chặt hơn với Việt Nam.

Những người này hướng tới thế hệ người Việt Nam trẻ hơn, mà tiêu biểu là ông Phạm Bình Minh, người từng tu nghiệp tại Trường Luật và Ngoại giao Fletcher thuộc Đại học Tufts ở tiểu bang Massachusetts, đồng thời sống và làm việc tại Mỹ nhiều năm.

Các lãnh đạo trẻ tuổi của Việt Nam đang đứng trước nhiều bài toán khó.

Bloomber liệt kê một số yếu kém của nền kinh tế Việt Nam, mà hãng này nhận định là vẫn chủ yếu dựa vào động lực của nhân công rẻ.

Nạn tham nhũng vẫn còn tràn lan và khó tận diệt.

Vài năm trước, một trung tâm nghiên cứu về quản lý kinh tế có liên hệ với Trường Quản trị John F. Kennedy thuộc Đại học Harvard, có đưa ra một báo cáo về thực trạng ở Việt Nam.

Trong đó, các nhà nghiên cứu nói các yếu tố quan trọng cho một nền kinh tế thành công - tính minh bạch, ít tham nhũng, hệ thống y tế và giáo dục tốt cũng như hạ tầng pháp luật chặt chẽ - đều chưa có mặt ở Việt Nam.

Các nhà lãnh đạo mới của Việt Nam sẽ phải giải quyết các thách thức này.

Một trong các thách thức lớn nhất, theo Bloomberg, là duy trì quan hệ hữu hảo với nước láng giềng Trung Quốc trong khi thúc đẩy quan hệ với Washington.

Bên cạnh đó, là khắc phục tham nhũng và cải cách nền giáo dục yếu kém.

Ngay tại đây, bài báo của Bloomberg nhận định, cũng có thể nảy sinh sự hợp tác thú vị và hiệu quả giữa Việt Nam và Mỹ. Đó là việc có thể sau này Đại học Harvard, nơi đào tạo ra nhiều lãnh đạo Mỹ từng kiến tạo cuộc chiến Việt Nam, lại có thể giúp hình thành một đại học tầm vóc quốc tế cho con cháu của những người từng ở bên kia chiến tuyến.

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

Nouriel Roubini: Mỹ sẽ có QE3 vào cuối năm 2011

Chuyên gia kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn đối với các thị trường tài chính thế giới dự báo khả năng kinh tế Mỹ suy thoái là 50%.

Ông Nouriel Roubini, chuyên gia kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn đối với các thị trường tài chính thế giới, khẳng định vào cuối năm nay Fed sẽ phải tung ra QE3.

Ông Roubini nói: “Sự thật là chúng ta đang tiến gần hơn đến suy thoái kinh tế và lựa chọn chính sách còn lại của Fed chỉ là QE3.”

Ông dự báo khả năng kinh tế Mỹ suy thoái là 50%.
Ông khẳng định dù trong buổi họp cuối tuần này chủ tịch Fed có cân nhắc đưa ra QE3 hay không không quan trọng, chắc chắn Fed sẽ phải làm vậy ở thời điểm cuối năm 2011.

Ông nhấn mạnh trong buổi họp gần nhất của Ủy ban thị trường mở (FOMC), Fed đã cân nhắc đến nhiều lựa chọn chính sách nếu kinh tế suy yếu và số liệu kinh tế bi quan thời gian gần đây có thể buộc Fed phải hành động trong buổi họp sắp tới vào ngày 20/09/2011.

Ông chỉ ra thông tin kinh tế u ám trong các lĩnh vực như nhà đất, việc làm và doanh số bán nhà cho thấy nhiều khả năng kinh tế Mỹ, Ireland, Bồ Đào Nha hay Ý và Tây Ban Nha có thể suy thoái lần 2 hoặc thực ra chưa bao giờ thoát khỏi suy thoái lần thứ 1.

Số liệu từ Đức và Pháp khiến giới chuyên gia tính toán rằng 2 nên kinh tế này đang bên bờ vực suy giảm, kinh tế Anh trong khi đó không hề tăng trưởng suốt 3 quý qua.

Ông đồng ý với Tổng Thống Obama về việc trong ngắn hạn nước Mỹ cần kích thích tài khóa và trong trung hạn mới cần đến các biện pháp “thắt lưng buộc bụng”.

Ông khẳng định tình trạng kinh tế càng kém đi, khả năng Đảng Dân chủ thua cuộc trong cuộc bầu cử năm tới càng cao và Đảng Cộng hòa sẽ chiến thắng.

Ông khuyên khách hàng của mình nên cẩn trọng đối với cổ phiếu và hàng hóa.

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

Wells Fargo lại khẳng định không có bong bóng vàng

Các chuyên gia thuộc ngân hàng Wells Fargo của Mỹ vừa đưa ra ba lý do để chứng minh cho việc mức giá vàng cao kỷ lục hiện nay không phải là bong bóng. Wells Fargo tỏ ra “tiền hậu bất nhất” khi mới cách đây ít ngày còn tuyên bố rằng, một khối bong bóng khổng lồ đang hình thành trên thị trường vàng.

Theo trang Business Insider, dưới đây là ba lý do mà Wells Fargo cho là không có bong bóng vàng:

Thứ nhất, giá vàng có thể điều chỉnh giảm sau khi vượt mức 1.900 USD/oz, nhưng sự điều chỉnh nhiều khả năng chỉ xảy ra trong ngắn hạn.

Vào tháng 1/1980, giá vàng thế giới đã lên đến mức tương đương 1.952 USD/oz ngày nay nếu tính yếu tố lạm phát. Sáng nay, giá vàng giao ngay đã có lúc vượt 1.911 USD/oz, bỏ xa kỷ lục của năm 1980.

Tuy nhiên, theo Wells Fargo, giá vàng thời gian qua đã đi theo đường parabol, tức là đã tăng rất mạnh và rất nhanh. Thông thường, khi giá tài sản tạo biểu đồ hình parabol, giá sẽ thường không duy trì ở những mức cao quá lâu và thường nhanh chóng điều chỉnh giảm.

Tuy nhiên, xét tới những nguyên nhân đẩy giá vàng tăng chóng mặt hiện nay, sự điều chỉnh nếu có sẽ không quá lớn và có thể sẽ không kéo dài trước khi vàng tăng giá trở lại.

Thứ hai, giá vàng vẫn chưa tăng nhiều, tăng nhanh như chỉ số Nasdaq của thị trường chứng khoán Phố Wall hay giá dầu thô.

Trong thời kỳ 5 năm trước khi đạt mức kỷ lục, chỉ số Nasdaq đã tăng 500%, giá dầu tăng 340%. Trong năm 5 năm qua, giá vàng mới chỉ tăng có 200%. Bởi vậy, xét ở phương diện này, vàng vẫn chưa rơi vào tình trạng bong bóng như chỉ số Nasdaq hồi năm 2000 hay giá dầu thô hồi năm 2008. Tuy nhiên, có thể nói là vàng đang tăng tốc mạnh, khi mà trong thời kỳ 5 năm tính đến tháng 4 năm nay, kim loại quý này mới đắt thêm 150%.

Thứ ba, hệ số giá vàng/giá dầu đang ở mức trên trung bình, nhưng không phải là chưa từng có tiền lệ.

Trong khi giá vàng leo thang mạnh, giá dầu lại sụt giảm về vùng 84 USD/thùng do những lo ngại về suy giảm tăng trưởng toàn cầu. Vì thế, hệ số giữa giá của một ounce vàng và một thùng dầu đã lên hơn 22 lần, cao hơn mức trung bình 15,5 lần của lịch sử, nhưng chắc chắn không phải là một con số chưa từng có tiền lệ.

Thêm vào đó, không thể cho rằng giá vàng đang cao quá mức hay giá dầu đang thấp quá mức chỉ vì hệ số này cao trên trung bình. Ở thời điểm hiện nay, cả việc giá vàng tăng và giá dầu giảm dường như đều là hợp lý nếu xét tới những yếu tố căn bản. Hệ số này có thể giảm chút ít trong những tuần tới, nhưng Wells Fargo cho rằng, họ không nhận thấy khả năng sụt chóng mặt của giá vàng.

Wells Fargo đưa ra những lập luận trên chỉ khoảng 1 tuần sau khi ngân hàng này tin rằng, thị trường vàng đang có những diễn biến vượt tầm kiểm soát. Báo cáo tuần trước của Wells Fargo muốn đưa đến một “hồi chuông cảnh tỉnh” cho những nhà đầu tư có ý định mua vàng.

Trong báo cáo đó, ông Erik Davidson, Phó giám đốc thông tin (CIO) thuộc bộ phận ngân hàng phục vụ tư nhân của Wells Fargo, đã đưa ra những tiền lệ sụt giảm của giá vàng sau khi đạt đỉnh, như trong 6 tháng hồi năm 2008, giá vàng giảm hơn 30%, hay trong chưa đầy hai năm hồi thập niên 1980, giá vàng sụt gần 65% giá trị…

“Khi những nỗi lo sợ lắng xuống, lạm phát không tăng mạnh, và mọi thứ trở lại ‘bình thường’, nhu cầu vàng có thể giảm xuống nhanh chóng”, chuyên gia này viết. Báo cáo này của Wells Fargo còn cho rằng, trong dài hạn, đầu tư vào cổ phiếu và hàng hóa cơ bản là an toàn hơn vàng, vì đây là những kênh đầu tư được lợi từ lạm phát.

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

Các máy in tiền tại Mỹ hoạt động hết công suất

Giới kinh tế Mỹ cảnh báo các máy in tiền đang hoạt động hết công suất khi Mỹ đổ lượng tiền kỷ lục mà không có đảm bảo vào nền kinh tế.
Nhà nghiên cứu và phân tích kinh tế Mỹ, Mike Larson cho rằng Washington đã "tuyên bố chiến tranh" về đồng USD.

Sau cuộc tấn công khủng bố vào ngày 11/9/2001, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) in thêm 40 tỷ USD mới. Khi ngân hàng Lehman Brothers phá sản năm 2008 đẩy Mỹ và thế giới vào khủng hoảng kinh tế toàn cầu, FED in thêm 1.600 tỷ USD, gấp 22 lần lượng tiền in thêm trong những ngày chống Y2K và 44 lần so với lượng tiền in thêm sau ngày 11/9/2001.

FED còn tung vào thị trường thêm 1.700 tỷ USD trong gói kích thích kinh tế lần thứ nhất năm 2009 và cũng đã quyết định in thêm 600 tỷ USD nữa trong gói kích thích kinh tế lần thứ 2 nhằm kích thích nền kinh tế Mỹ vượt qua suy thoái.

Sau mỗi lần in thêm tiền, mỗi đồng USD lại mất đi một phần giá trị và sức mua của đồng USD càng suy giảm, buộc các nhà đầu tư nước ngoài phải tiếp tục cho Mỹ vay nợ không chỉ qua mua trái phiếu kho bạc của Mỹ mà cả bằng những đồng USD mà chính họ cũng phải đi vay.

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2011

Lầu Năm Góc ra kế hoạch mới đối phó với TQ

Mùa hè này, dù cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ vẫn tiếp tục diễn ra, Lầu Năm Góc đã tính toán hiệu quả của hai cuộc chiến bị sa lầy và chuẩn bị cho khả năng chiến cuộc thứ ba. Với việc giảm bớt các cam kết tại Iraq và Afghanistan trong khi tái tập trung vào châu Á, Washington không cần rút quá nhiều lực lượng từ vùng Vịnh khi cần có thể phải huy động cho một cuộc chiến có thể xảy ra với chủ nợ lớn nhất - Trung Quốc.

Theo báo chí quốc phòng, quan chức Lầu Năm Góc đang tìm kiếm các biện pháp để thích nghi với khái niệm mang tên Chiến trận Hải - Không để đối phó với Trung Quốc. Bản tin nội bộ của Lầu Năm Góc gần đây cho hay, một nhóm nhỏ các sĩ quan hải quân Mỹ gọi là Đội Tích hợp Trung Quốc “nỗ lực làm việc để thích nghi với những bài học của Chiến trận Hải - Không cho một cuộc xung đột khả năng xảy ra với Trung Quốc”.

Chiến trận Hải - Không, được phát triển từ đầu những năm 1990 và gần đây nhất được mã hóa trong hồ sơ mật của lực lượng Hải quân - Không quân năm 2009. Khái niệm Chiến trận Hải - Không do các nhà hoạch định của hải quân và không quân Mỹ xây dựng để các máy bay ném bom của lực lượng không quân và tàu ngầm của hải quân phối hợp với nhau nhằm “vô hiệu hóa” các rađa và tên lửa đất đối không (SAM) của các cường quốc ven biển như Trung Quốc và Iran.

Một sự vận động của Mỹ âm thầm diễn ra ở châu Á trong một nghiên cứu mùa xuân năm 2001 của Lầu Năm Góc gọi là "châu Á 2025", trong đó nhận định Trung Quốc như một "đối thủ dai dẳng của Mỹ". Ba năm sau đó, chính phủ Mỹ công khai một bản kế hoạch gọi là một chuỗi căn cứ mới ở Trung Á và Trung Đông, trong một phần nỗ lực phong tỏa Trung Quốc.

Tương tự như vậy, thỏa thuận hợp tác năng lượng hạt nhân ký kết giữa Mỹ và Ấn Độ năm 2008 là động thái ngăn chặn rõ ràng nhằm vào Bắc Kinh. Cuối tháng 3, báo chí đưa tin chi tiết về việc tăng cường lực lượng lớn của Mỹ ở châu Á, bao gồm cả gia tăng triển khai hải quân và mở rộng hợp tác với các nước đối tác.

Tuy nhiên, khác với các đồng minh của Mỹ ở châu Á và châu Âu, Trung Quốc không vướng mắc những bổn phận an ninh với một cường quốc nước ngoài, đặc biệt với vấn đề Biển Đông. Bắc Kinh xác định Mỹ không như một đối tác chiến lược mà là mối đe dọa. Trong năm 2007, khi Trung Quốc phá hủy một trong những vệ tinh thời tiết của mình bằng tên lửa đạn đạo, họ đã gửi lời cảnh báo tới Washington sau sáu năm xảy ra vụ đụng độ giữa một máy bay do thám Mỹ với máy bay chiến đấu của Trung Quốc đang cố chặn máy bay Mỹ ở Biển Đông. Khi đó, máy bay Mỹ đã phải hạ cánh khẩn cấp trên một hòn đảo của Trung Quốc và các phi công đã bị bắt giữ trong một thời gian ngắn. Mặc dù cuộc khủng hoảng đã được tháo gỡ bằng biện pháp ngoại giao, nhưng nó đã khiến Washington có những xem xét đánh giá trong "châu Á 2025".

Ngoài Trung Quốc là nước đưa ra tuyên bố chủ quyền với gần như toàn bộ Biển Đông, Việt Nam, Brunei, Malaysia và Philippines đều có tuyên bố chủ quyền với các đảo trong vùng biển này. Thay vì can thiệp bằng cách ngoại giao gỡ rối những tranh cãi, Mỹ đã phản đối Bắc Kinh một cách rõ ràng.

Tháng 3/2010, khi báo chí Nhật Bản dẫn lời một quan chức Trung Quốc nói rằng, Biển Đông là "một lợi ích cốt lõi" của Trung Quốc, Nhà Trắng phản ứng bằng tuyên bố, tự do hàng hải trong khu vực là một "lợi ích quốc gia" của Mỹ. Tại Manila tháng trước, Ngoại trưởng Hillary Clinton khẳng định, Mỹ tuân thủ hiệp ước phòng thủ chung với Philippines và sẽ bán vũ khí mới cho nước này ở mức giá thích hợp.

Thái An (theo Salon)