Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

Giải mã giá USD tăng kịch trần

Một phó tổng giám đốc phụ trách phòng ngoại hối NHTMCP, chia sẻ USD tăng giá trong những ngày qua là cơ hội kiếm lợi cho giới nhà băng. Sau hơn 2 tuần duy trì giá bán USD quanh mức 21.005 đồng/USD, cuối tuần qua giá bán USD niêm yết tại Sở giao dịch của NHNN đã chạm biên độ 21.036 đồng/USD, bằng giá của các NHTM. Ở chiều mua vào, tỷ giá vẫn giữ nguyên 20.850 đồng/USD. Tỷ giá bình quân liên NH vẫn được NHNN duy trì ở mức 20.828 đồng/USD. Giá USD tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó do cầu ngoại tệ tăng trên thị trường chính thức. 3 lý do tăng giá USD Theo một tổng giám đốc NHTMCP, phân tích từ thực tiễn 2 tuần qua, cho thấy tỷ giá trên thị trường tăng xuất phát từ 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất, cầu USD tăng do 3 yếu tố: (1) nhu cầu USD để nhập lậu vàng tăng trong bối cảnh giá vàng trong nước cao hơn thế giới trên 5 triệu đồng/lượng. (2) Sắp đến thời hạn 30-6 nên giới đầu cơ ngoại tệ dự đoán NHNN sẽ đẩy mạnh nhập khẩu vàng để đấu thầu, hỗ trợ các NHTM hoàn thành tất toán trạng thái vàng. Theo dự đoán, sau gần 30 phiên đấu thầu NHNN đã bỏ ra hơn 1 tỷ USD để nhập khẩu vàng. Giới đầu cơ đã đón đầu găm giữ và đẩy giá USD trên thị trường lên cao. (3) Nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục khi nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp có xu hướng tăng. Và khi nhập siêu tăng trở lại, cầu ngoại tệ của doanh nghiệp để nhập hàng hóa tất yếu cũng tăng theo. Thứ hai, trước đây lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ cao, trong khi lãi suất tiền gửi USD bị khống chế 2%/năm đối với cá nhân và 0,5%/năm đối với doanh nghiệp, nhiều người dân bán ngoại tệ lấy VNĐ để gửi tiết kiệm. Nhưng hiện nay sự điều chỉnh giảm lãi suất huy động bằng VNĐ đã khiến chênh lệch giữa lãi suất huy động USD và VNĐ hẹp lại, dẫn đến người dân rút VNĐ mua USD gửi tiết kiệm, kéo theo cầu USD trên thị trường tăng theo. Thứ ba, cầu tăng trong khi cung USD trên thị trường ngoại tệ đang giảm do xuất khẩu một số mặt hàng chủ chốt (gạo, thủy sản) nước ta đang gặp nhiều khó khăn. Ngoại tệ thu về các doanh nghiệp đều bán lại cho NHTM, nhưng do xuất khẩu giảm nên ngoại tệ bán cho NHTM cũng giảm theo. Trong khi đó, nhu cầu vay ngoại tệ để hưởng lãi suất rẻ của doanh nghiệp xuất khẩu vẫn có. Cầu USD cao hơn cung buộc các NHTM phải đẩy giá mua bán USD tăng kịch trần cho phép. Sóng ngắn hạn? Đợt tăng tỷ giá này đã xuất hiện thông tin cho rằng tới đây NHNN sẽ điều chỉnh tỷ giá. Tuy nhiên, lãnh đạo NHNN đã lên tiếng bác bỏ việc tăng tỷ giá và nhận định do nhu cầu một số NHTM tăng để bù đắp trạng thái, nhưng sự việc này chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Đồng thời, dù tỷ giá trên thị trường biến động nhẹ nhưng trạng thái ngoại tệ của hệ thống NHTM vẫn cải thiện, thanh khoản tốt. Theo nhiều chuyên gia NH, dự trữ ngoại hối quốc gia thời gian qua tăng cao nên không quá lo về sự biến động tỷ giá quá lớn. Gần đây NHNN cũng đã bán ra gần 1 tỷ USD để cân bằng cung cầu ngoại tệ và dự kiến mức tăng tỷ giá từ nay đến cuối năm nếu có cũng chỉ khoảng 1%. Vì vậy, biến động của tỷ giá chưa tác động đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, chưa tạo áp lực lên lạm phát từ nay đến cuối năm. Có thể sau thời hạn 30-6-2013 cầu ngoại tệ của thị trường sẽ ổn định trở lại. Điều quan trọng hiện nay là NHNN sẽ cân nhắc và cẩn trọng hơn trong lộ trình điều chỉnh giảm tiếp lãi suất huy động bằng VNĐ. Bởi nếu giảm quá nhanh với biên độ không nhỏ sẽ gây lên áp lực tỷ giá vào những tháng cuối năm, trùng thời điểm cầu ngoại tệ của nền kinh tế đang tăng mạnh. Theo một lãnh đạo NHTM, thời điểm này khá nhạy cảm khi thị trường đang chờ động thái điều hành tỷ giá của NHNN và giá USD đang có “sóng”, nên không NHTM nào mạnh tay thực hiện nghiệp vụ bán ngoại tệ lấy tiền đồng (short USD) để cho vay kiếm chênh lệch lãi suất như trước. Bởi chênh lệch giữa lãi suất USD và VNĐ khoảng 7%/năm là an toàn, dưới 7%/năm ở mức trung bình, nhưng giảm xuống 5%/năm là nguy hiểm và rủi ro cho nghiệp vụ short USD. Khi short USD lấy tiền đồng kinh doanh NH có thể lãi 6-7%/năm, nhưng chỉ cần tỷ giá biến động các NHTM có thể mất hết lợi nhuận trên trong vài tháng. Một phó tổng giám đốc phụ trách phòng ngoại hối NHTMCP, chia sẻ USD tăng giá trong những ngày qua là cơ hội kiếm lợi cho giới nhà băng. Nhưng do NHNN giảm trạng thái ngoại hối của các NHTM từ 30% xuống 20%/vốn tự có nên không phải NHTM nào cũng làm được. Hơn nữa, để tránh đầu cơ ngoại tệ chờ tỷ giá tăng, NHNN giám sát rất kỹ nhu cầu mua ngoại tệ của các NHTM. “Nếu cầu USD còn tăng, bên cạnh bán USD ra can thiệp, NHNN sẽ giám sát chặt chẽ hơn, yêu cầu NHTM chỉ ưu tiên ngoại tệ cho doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng thiết yếu. Do vậy, những doanh nghiệp nhập khẩu thuần túy sẽ chịu thiệt thòi hơn” - vị này nhận định. Theo Mai Thảo

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

TS Lê Xuân Nghĩa: Tỷ giá đang đứng trước hai sức ép lớn

TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng từ nay đến cuối năm NHNN sẽ điều chỉnh tỷ giá khoảng 1%. Theo TS Lê Xuân Nghĩa, lạm phát cao sẽ khó quay lại, lượng cầu trong thời gian dài sụt giảm mạnh kéo theo cung sụt giảm, dự dự trữ bắt buộc giảm rất mạnh điều đó cho thấy sự thiếu hụt vốn của nền kinh tế bắt đầu xuất hiện. Giá nông sản đang giảm mạnh và có thể tạo ra giai đoạn dò đáy kéo dài đến tháng 8/2013, rất có thể từ tháng 9 trở đi giá cả bắt đầu tăng dần lên và các chuyên gia trường đại học Harvard cho rằng đây là dấu hiệu tốt chứ không phải dấu hiệu xấu vì giá tăng thì sản xuất mới tăng được, giá cả tăng trở lại mới kích thích sản xuất và đẩy tổng cầu lên còn nếu giá bi bét thì khó có thể kích thích tổng cầu. “Khi chúng tôi đa ra Đề án xử lý nợ xấu không dùng tiền ngân sách, không dự báo xu hướng lạm phát không thể bơm tiền, nợ xấu dứ dứ còn tệ hại hơn, đẩy tình trạng đóng băng tài sản và báo cáo Thủ tướng rất rõ chính sách tiền tệ từ nay đến cuối năm”, ông Nghĩa nói. Về tỷ giá, theo ông Nghĩa, tỷ giá đứng trước hai sức ép lớn là cán cân thanh toán và lực cầu của thị trường. Lực cầu của thị trường rất khó dự đoán, hiện tại các NHTM hạn chế cho vay ngoại tệ vì vậy ngoại tệ được mua bán là chủ yếu. chúng tôi quan sát thấy trạng thái ngoại hối của các NHTM giảm, trạng thái âm tăng lên, điều này cho thấy rằng tỷ giá hối đoái nhất định có sóng. Thị trường hối đoái bắt đầu có sóng vì các quả cân để cân bằng nó như tín dụng ngoại tệ giảm rất mạnh và điểm cân bằng là tín dụng lại rất bấp bênh, đó là lý do vài tuần gần đây tỷ giá biến động khá tích cực, mặc dù NHTƯ trong thời gian ngắn bán ra 1 tỷ USD để cân bằng thị trường. Đây không phải xu thế tăng tỷ giá hối đoái, với thâm hụt thương mại 1 tháng 1,2 tỷ USD như tháng 5 có thể đó là 1 dấu hiệu của xu thế, chỉ với một tháng 5 can thiệp của NHTW như thế thì có thể có sóng, thị trường mua bán kiểu này đương nhiên có sóng và nhất định NHTƯ từ nay đến cuối năm sẽ điều chỉnh tỷ giá khoảng 1%. Phương Mai Theo Trí Thức Trẻ

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

10 nước có lực lượng quân đội đông nhất

http://vnmedia.vn/VN/kinh-te/tin-tuc/26_1243844/10_nuoc_co_luc_luong_quan_doi_dong_nhat.html Công nghệ và vũ khí tối tân có thể giúp tăng khả năng chiến thắng, nhưng số lượng quân đội cũng đóng góp nhiều cho sự tự tin và nhuệ khí, đó chính là sức mạnh của số đông. Cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất đã thay đổi cục diện hoàn toàn khi Mỹ quyết định ủng hộ quân Đồng minh. Mặc dù việc phát minh ra xe tăng đã giúp ích lớn cho quân Đồng minh nhưng lực lượng quân đội đông đảo chắc chắn là yếu tố quan trọng giúp phe này thắng cuộc. Trong Chiến tranh thế giới lần hai, Hitler đã mắc sai lầm chết người khi xâm lược một cựu đồng minh của Liên Xô. Người Nga với lực lượng quân sự hùng hậu đã chặn đứng các cuộc tấn công của Đức quốc xã. Công nghệ và vũ khí tối tân có thể giúp tăng khả năng chiến thắng, nhưng số lượng quân đội cũng đóng góp nhiều cho sự tự tin và nhuệ khí, đó chính là sức mạnh của số đông. Dưới đây là danh sách 10 quốc gia có lực lượng quân đội lớn nhất thế giới: 1. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: 2.285.000 quân nhân Không quá ngạc nhiên khi quốc gia đông dân nhất thế giới này có lực lượng quân đội đông nhất thế giới. Nam giới Trung Quốc từ 18 tuổi trở lên bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, tuy nhiên việc này không quá gắt gao bởi lực lượng tình nguyện cũng đã rất đông đảo. Ảnh minh họa 2. Mỹ : 1.458.219 quân nhân Mỹ xây dựng lực lượng quân đội bằng cách kêu gọi những người tình nguyện được trả lương. Trước đây nước này từng thực hiện chế độ tuyển quân bắt buộc trong suốt thời kỳ chiến tranh với Việt Nam, một cuộc chiến không được người dân Mỹ ủng hộ. Quy định này đã được hủy bỏ từ năm 1972. Kể từ đó, mỗi năm Mỹ chi hơn 500 tỷ USD cho quốc phòng và thêm khoảng 160 tỷ USD cho các hoạt động quân sự bất thường ở nước ngoài. Mức chi tiêu này tương đương 43% tổng chi tiêu cho quân sự trên toàn thế giới. Ảnh minh họa 3. Ấn Độ: 1.325.000 quân nhân Là nước đông dân thứ hai trên thế giới với hơn 1,2 tỷ người, Ấn Độ cần rất nhiều quân đội để bảo vệ cho họ. Đây cũng là nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới, chiếm tới 9% trên thị trường vũ khí nhập khẩu. Ấn Độ có mối quan hệ thân thiết với Nga do vậy đa số vũ khí nhập khẩu từ Nga, tiếp theo là Israel và Pháp. Nước này thường xuyên có những căng thẳng về đường biên giới với Pakistan và Trung Quốc. Ảnh minh họa 4. Triều Tiên: 1.106.000 quân nhân Quân đội nước này hình thành từ cuối những năm 1930, khi Nhật Bản vẫn còn xâm chiếm bán đảo này. Vào thời điểm đất nước bị chia cắt thành hai phần, Triều Tiên chỉ có 2.500 quân nhân. Tuy nhiên, lực lượng quân đội đã phát triển nhanh chóng trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Hiện nay, khoảng ¼ ngân sách nghèo nàn của nước này được dành để chi cho quân đội, ước tính lên tới 10 tỷ USD. Ảnh minh họa 5. Liên bang Nga: 1.027.000 quân nhân Mặc dù có một lịch sử chinh chiến lâu đời, nhưng quân đội của Liên bang Nga chính thức được thành lập là từ ngày 7/5/1992 sau khi Liên Xô cũ tan rã. Tổng thống Nga khi đó, ông Boris Yeltsin đã ký một sắc lệnh đưa toàn bộ quân đội của Liên Xô trong lãnh thổ của Liên bang Nga trở thành một phần của quân đội Nga. Hàng năm quốc gia này chi gần 72 tỷ USD để duy trì và hiện đại hóa lực lượng quân sự. Ảnh minh họa 6. Thổ Nhĩ Kỳ: 666.576 quân nhân Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ được hình thành từ thời Đế chế Ottoman, thế kỷ 13, tuy nhiên đã tan rã sau thất bại ở Thế chiến thứ nhất. Quốc gia này bắt đầu các chương trình lớn để hiện đại hóa quân sự sau khi gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) năm 1952. Ảnh minh họa 7. Hàn Quốc: 639.000 quân nhân Quân đội Hàn Quốc được thành lập năm 1948 sau khi đất nước bị chia cắt. Hàn Quốc đã trải quan thời gian dài phụ thuộc vào Mỹ về mặt an ninh quân sự. Tuy nhiên, đến năm 2015, nước này sẽ tự kiếm soát hoạt động quân sự. Trong vài năm gần đây, quân đội Hàn Quốc đã được hiện đại hóa nhanh chóng với các vũ khí hiện đại và công nghệ tối tân. Ảnh minh họa 8. Pakistan: 617.000 quân nhân Lực lượng quân đội Pakistan được thành lập năm 1947 sau khi giành được độc lập từ đế quốc Anh. Pakistan đã trải qua hai cuộc chiến tranh với nước láng giềng Ấn Độ năm 1947 và 1965, đồng thời có những xung đột về đường biên giới với Afghanistan cùng thời gian đó. Ảnh minh họa Trong khi Ấn Độ có mối quan hệ quân sự chặt chẽ với Nga, Pakistan lại tìm tới Trung Quốc và Mỹ để nâng cấp năng lực quân sự của mình. Phần lớn vũ khí được nhập khẩu từ hai nước này. Pakistan cũng có thỏa thuận với Trung Quốc về việc nghiên cứu phát triển và tăng cường năng lực quân sự. 9. Iran: 523.000 quân nhân Quân đội Iran được thành lập sau khi vương triều Pahlavi cai quản đất nước năm 1925. Các tướng lĩnh được đào tạo tại các học viện quân sự ở Mỹ và châu Âu. Phần lớn vũ khí được nhập từ Mỹ, khi họ còn là đồng minh. Sau cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979, quan hệ giữa Mỹ và Iran trở nên căng thẳng. Lệnh cấm vận quân sự buộc Iran phải trông vào chính mình để duy trì hoạt động quân sự. Năm 1989, Iran bắt đầu xây dựng lại lực lượng quân đội bằng các vũ khí nhập từ Liên Xô. Đến nay, nước này đã trở thành một trong những nước có lực lượng quân sự mạnh nhất vùng Trung Đông. Ảnh minh họa 10. Ai Cập: 468.500 quân nhân Ai Cập là một trong những lực lượng quân sự mạnh nhất ở Trung Đông và cả châu Phi, đây cũng là một nước A rập duy nhất có hệ thống vệ tinh do thám. Quân đội nước này được trang bị vũ khí nhập từ khắp nơi trên thế giới, nhiều nhất là từ Mỹ, Anh và Pháp. Ai Cập cũng hỗ trợ và đào tạo về quân sự cho nhiều nước A rập và châu Phi khác. Ảnh minh họa

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Tràn lan đồ chơi Trung Quốc gây vô sinh, ung thư

Các loại đồ chơi xuất xứ từ Trung Quốc chứa nhiều chất độc hại có thể hủy hoại sức khỏe trẻ em vẫn được bày bán công khai trên thị trường Việt Nam. Hiện nay, đồ chơi trẻ em nhập ngoại chiếm khoảng 90% thị trường và hầu hết có xuất xứ từ Trung Quốc. Gần đây, các cơ quan chức năng phát hiện các loại đồ chơi này đa phần có chứa các chất độc hại đối với sức khỏe con người. Vô cùng độc hại Tại các chợ và các cửa hàng đồ chơi ở TP.HCM, mỗi tháng nhập đến hàng trăm tấn đồ chơi trẻ em, như ô tô, tàu thủy, máy bay bằng nhựa, các bộ xếp hình, súng nước, các con thú bằng nhựa… xuất xứ từ Trung Quốc. Các loại đồ chơi này trông rất bắt mắt, nhiều kiểu dáng, giá rẻ nên các tiểu thương nhập về ồ ạt. Ngoài việc bán tại chỗ, chúng được bỏ mối sỉ cho các đầu nậu ở các tỉnh, thành phía Nam. Người tiêu dùng khó có thể lường hết được các chất độc hại có trong đồ chơi trẻ em. Ngoài ra, thị trường đồ chơi trên mạng cũng đang rất sôi động. Chỉ cần mở máy tính là có thể dễ dàng truy cập vào hàng trăm trang web kinh doanh các loại đồ chơi trẻ em mà không ai kiểm tra được độ an toàn của chúng, các cơ quan chức năng cũng khó quản lý được. Các nhà khoa học trong và ngoài nước gần đây đã cảnh báo hàng loạt sản phẩm đồ chơi có xuất xứ từ Trung Quốc chứa nhiều hóa chất độc hại. Cụ thể, lồng đèn Trung Quốc vừa được Viện Hóa học Việt Nam kiểm nghiệm có chứa chất cadimi có thể gây ung thư; nhiều loại keo để thổi thành bong bóng rất độc hại, gây chóng mặt, nhức đầu; các loại bóng bay có chứa lưu huỳnh có thể gây ung thư khi ngậm… Đặc biệt, tổng cục tiêu chuẩn đo lường Chất lượng đã phát hiện nồng độ chất dẻo phthalate rất cao trong nhiều loại thú nhún bày bán ở Hà Nội và TP.HCM. Viện Hóa học Việt Nam đã cảnh báo phthalate là chất có thể phá hủy hệ thống hormone của cơ thể, gây ung thư, hủy hoại thận. Khi bị nhiễm chất này lâu dài, các bé gái có nguy cơ dậy thì sớm, các bé trai có thể bị nữ tính hóa, vô sinh... Thanh tra toàn quốc Ngày 24/5, chi cục quản lý thị trường tỉnh Thừa Thiên - Huế đã bắt giữ một lô hàng gồm 500 cây súng đồ chơi có xuất xứ từ Trung Quốc nghi chứa chất cực độc, đang chuẩn bị chuyển đi phía Nam tiêu thụ. Các sản phẩm này được làm bằng nhựa tái chế APS và nhựa PE. Theo một số kết quả giám định gần đây của viện khoa học Vật liệu ứng dụng và viện Công nghệ Hóa học, hầu hết đồ chơi của Trung Quốc làm bằng loại nhựa trên có chứa một chất kim loại độc hại, có thể gây ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt… Người tiêu dùng khó có thể lường hết được các chất độc hại có trong đồ chơi trẻ em. Ông Hoàng Dũng (ngụ quận 2 - TP.HCM) sau khi đọc những thông tin về sự độc hại của các sản phẩm trên đã bức xúc: “Những món đồ chơi này thật khó lường, giờ không biết kiếm đâu ra đồ chơi an toàn cho con, cháu. Những sản phẩm độc hại này cần phải sớm được loại trừ để bảo đảm an toàn cho trẻ em”. Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn đồ chơi trẻ em (QCVN 3:2009), tổ chức, cá nhân sản xuất đồ chơi trẻ em trong nước, tổ chức, cá nhân nhập khẩu đồ chơi trẻ em phải thực hiện việc chứng nhận, công bố hợp quy và bảo đảm chất lượng. Đồ chơi trẻ em sản xuất trong nước, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường phải được kiểm tra về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Thế nhưng bằng nhiều cách, đồ chơi trẻ em độc hại vẫn ồ ạt đưa vào thị trường, bày bán công khai. Trước thực trạng trên, bộ khoa học và công nghệ (KH-CN) cho biết sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan thanh tra việc thực hiện quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, chất lượng và sở hữu công nghiệp đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu và buôn bán đồ chơi trẻ em. Đợt thanh tra sẽ tiến hành trên toàn quốc trong 2 tháng 8 và tháng 9/2013. Hiện Bộ KH-CN đã gửi kế hoạch thanh tra đến sở KH-CN của 63 tỉnh, thành chuẩn bị kế hoạch thanh tra. Vi phạm tràn lan Ông Trần Minh Dũng, chánh thanh tra Bộ KH-CN, cho biết qua kết quả kiểm tra ở các tỉnh, thành phố trong năm 2012 thì tại 460 cơ sở kinh doanh, buôn bán đồ chơi trẻ em với 26.686 mẫu đồ chơi được kiểm tra, phát hiện 10.366 mẫu vi phạm, 10.428 mẫu không có dấu hợp quy, 13.722 mẫu không có chứng nhận hợp quy.

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2013

Tình hình kinh tế gay go lắm rồi!

“Tình hình doanh nghiệp bi đát, tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn, tỉ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%”. Đó là nhận xét của Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan tại phiên họp ngày 14-5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, khi nghe các báo cáo của Chính phủ và Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính - ngân sách về tình hình kinh tế - xã hội và thu ngân sách những tháng đầu năm 2013. Còn Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng: “Tình hình doanh nghiệp bi đát, tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn, tỉ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%”. Bà Doan đề nghị: “Phải nhìn thẳng vào tình hình khó khăn của đất nước để giải quyết vấn đề. Nếu kỳ họp Quốc hội này mà không đưa ra được giải pháp đủ mạnh thì những khó khăn sẽ thêm trầm trọng”. Khó khăn ngày càng lớn "Tình hình đúng là hết sức đáng lo ngại, tăng trưởng sản xuất giảm ở cả lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, bức tranh vô cùng ảm đạm. Chỉ cần nhìn số lượng hàng chục nghìn doanh nghiệp phá sản, phần còn lại thì đến 65% báo lỗ thì biết khả năng phục hồi kinh tế khó khăn đến mức nào" Ông Nguyễn Xuân Cường(phó trưởng Ban Kinh tế trung ương) “Dấu hiệu suy giảm kinh tế ngày càng rõ nét hơn, tổng cầu nền kinh tế sụt giảm mạnh, thu ngân sách gặp nhiều khó khăn; nợ xấu, tồn kho, khó khăn thị trường bất động sản và khả năng hấp thụ đầu vào của khu vực sản xuất chưa được cải thiện” - Ủy ban Kinh tế đánh giá. Theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu, việc thực hiện tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng chưa đem lại kết quả rõ rệt, chính sách kích thích tăng trưởng bị giới hạn bởi thâm hụt ngân sách, trong khi thị trường vốn và tăng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế vẫn ở mức quá thấp. Ba tháng đầu năm, số lượng doanh nghiệp thành lập mới là 15.700 doanh nghiệp (giảm 6,8% về số lượng, giảm 16% về vốn so với cùng kỳ năm trước); trong khi đó số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể là 15.300 (tăng 14,6% so với quý 1-2012). Thay mặt Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư Bùi Quang Vinh nhận định: sức mua của nền kinh tế khó có thể tăng mạnh trở lại trong thời gian ngắn khi việc làm và thu nhập của người lao động giảm sút, hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn gặp khó khăn, số lượng doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, giải thể và phá sản nhiều, tồn kho vẫn ở mức cao. Tăng trưởng tín dụng có thể sẽ khó tăng cao trong ngắn hạn và thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng tiền gửi tại các tổ chức tín dụng nếu nợ xấu không sớm được giải quyết, các ngân hàng thương mại không có các giải pháp hữu hiệu phân loại đối tượng cho vay mà vẫn siết chặt điều kiện cho vay sẽ ảnh hưởng đến phục hồi nền kinh tế. “Nếu các khó khăn nêu trên không được xử lý thì khả năng GDP đạt 5,5% như mục tiêu Quốc hội đề ra cho năm 2013 là rất khó khăn” - ông Vinh nói. Ông Nguyễn Xuân Cường - phó trưởng Ban Kinh tế trung ương - nói: “Tình hình đúng là hết sức đáng lo ngại, tăng trưởng sản xuất giảm ở cả lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, bức tranh vô cùng ảm đạm. Chỉ cần nhìn số lượng hàng chục nghìn doanh nghiệp phá sản, phần còn lại thì đến 65% báo lỗ thì biết khả năng phục hồi kinh tế khó khăn đến mức nào”. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phán đoán: “Tình hình doanh nghiệp bi đát, tôi nghĩ có tới một trăm nghìn doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn, tỉ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%”. Các con số chưa đáng tin cậy Hỗ trợ thỏa đáng ngư dân đánh cá ở Hoàng Sa, Trường Sa Tăng cường công tác nắm bắt, phân tích, dự báo tình hình để có chủ trương, đối sách phù hợp, đặc biệt là các vấn đề biên giới, biển đảo, thực hiện các đề án, giải pháp bảo đảm an ninh, trật tự tại các vùng chiến lược. Cần có chính sách hỗ trợ thỏa đáng đối với ngư dân đánh bắt cá ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của nước ta. (trích báo cáo của Ủy ban Kinh tế) Lấy con số dư nợ tín dụng ngân hàng từ đầu năm chỉ tăng hơn 1%, trong khi huy động tiền gửi tăng 5,5%, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan khẳng định “tiền tệ đã đóng băng, tình hình như thế này là nguy lắm rồi”. Bà nói: “Doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn thì không giải quyết được vấn đề gì đâu. Bây giờ doanh nghiệp nợ như thế thì có khoanh nợ, giãn nợ, cho vay tiếp không? Phải tập trung bàn về chính sách tiền tệ, giải quyết dòng vốn ra vào, đây là nút thắt”. Trong khi đó, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đề cập đến thực trạng “ngân hàng lúc nào cũng tuyên bố là sẵn sàng cho vay, nhưng doanh nghiệp nói là muốn vay đâu có dễ, đang nợ thì không thể vay được mà lãi suất cho vay vẫn cao nên chỉ có nước phá sản”. Ngoài việc khai thông nút thắt tiền tệ, Phó chủ tịch nước đề nghị tập trung vào giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: “Phải mạnh dạn cắt giảm, thậm chí xóa bỏ những chương trình không cần thiết. Tôi thấy tình trạng chồng chéo, lãng phí, cái gì cũng dang dở, bộ nào cũng muốn nắm một tí tiền. Chúng ta cần nhìn thẳng vào những khó khăn của đất nước, tiết kiệm chi tiêu công, dừng mua sắm xe công, phương tiện đắt tiền, giảm đi nước ngoài...”. Một số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ “nghiêm túc và thật thà” trong các con số báo cáo. “Báo cáo của Chính phủ cho thấy tỉ lệ nghèo vẫn giảm nhanh. Tại sao kinh tế khó khăn như vậy, doanh nghiệp đình đốn, công nhân mất việc, sản xuất ra không bán được hàng hóa mà lại giảm nghèo tốt như vậy? Tôi xuống thực tế thấy nghèo tăng lên chứ không có giảm” - Phó chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn nói. Ông Nguyễn Văn Giàu kể thêm: “Hoàn thuế VAT hôm trước nói 20.000 tỉ, mới có vài ngày mà hôm nay nói là 33.000 tỉ. Không thể tưởng tượng được!”. Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước đề nghị các bộ, ngành hãy nhìn vào khó khăn của đất nước mà báo cáo đúng tình hình, đừng đưa ra các con số báo cáo “vì cái ghế của mình”. Dầu khí cứu ngân sách Báo cáo của Chính phủ cho thấy thu ngân sách nhà nước năm 2012 tăng hơn 2.600 tỉ đồng (tỉ lệ tăng thu thấp nhất trong nhiều năm gần đây), chủ yếu nhờ vào thu từ dầu thô và thu viện trợ không hoàn lại. Đặc biệt, thu từ dầu thô vượt dự toán cao nhờ vào cả hai yếu tố giá và sản lượng đều tăng, đồng thời phát sinh 9.800 tỉ đồng từ khoản thu lãi nước chủ nhà năm 2012 và 10.000 tỉ đồng lãi dầu khí được chia cho nước chủ nhà từ năm 2006-2011. Vì vậy, thu từ dầu thô tăng hơn 53.000 tỉ đồng so với dự toán. Ủy ban Tài chính - ngân sách cho rằng nếu không có số thu thêm từ lãi dầu khí nước chủ nhà từ các năm trước thì ngân sách nhà nước năm 2012 sẽ hụt thu, mất cân đối, ảnh hưởng đến nhiệm vụ chi. Tình hình thu ngân sách nhà nước năm 2013 được dự báo còn căng thẳng hơn. Bốn tháng đầu năm mới ước đạt hơn 244.000 tỉ, bằng 29,9% dự toán. Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp thừa nhận tình trạng căng thẳng trong việc đảm bảo nhiệm vụ thu năm 2013, “nhiều ý kiến cảnh báo về khả năng hụt thu”. Do đó, Ủy ban Tài chính - ngân sách đề nghị phải triệt để tiết kiệm, cắt giảm các khoản chi không hợp lý, tiếp tục rà soát các dự án đầu tư công, tinh giản biên chế... để đảm bảo cân đối thu chi, an toàn ngân sách. Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - ngân sách Phùng Quốc Hiển cho biết năm nay sẽ không còn trông chờ được vào dầu khí nữa vì sản lượng ổn định và giá dự toán đã ở mức 90 USD/thùng. Kết thúc cuộc thảo luận, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đề nghị Chính phủ tiếp tục hoàn thiện báo cáo để trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp tới. “Chưa đặt vấn đề điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng, thu ngân sách..., nhưng nên lường trước tình huống cho kịch bản xấu nhất để xử lý tình hình” - bà Ngân gợi ý. * TS Lê Thẩm Dương (trưởng khoa quản trị kinh doanh ĐH Ngân hàng TP.HCM): Chỉ rối phải gỡ từ từ Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng tín dụng chậm hiện nay, về phía doanh nghiệp đó là do hàng tồn kho. Chính vì hàng tồn nên dù lãi suất thấp họ cũng không vay vì sản xuất ra bán cho ai? Bốn tháng đầu năm tình trạng hàng tồn vẫn chưa gỡ được bao nhiêu. Còn về phía ngân hàng (NH) do áp lực nợ xấu. Thời gian qua NH đã nỗ lực xử lý nợ xấu bằng cách bán tài sản đảm bảo, trích dự phòng... nhưng nợ xấu vẫn cao khiến NH nhát tay trong xét cho vay. Với những vấn đề hiện nay, nếu để NH và doanh nghiệp tự giải quyết với nhau thì sẽ không bao giờ giải quyết được vì có tình trạng như hiện nay còn có nguyên nhân từ nền kinh tế. Cơ quan quản lý phải xắn tay cùng với NH và doanh nghiệp trong việc ban hành và thực thi các chính sách tháo gỡ khó khăn, củng cố niềm tin, củng cố thị trường trong nước, làm ấm thị trường bất động sản... Về phía NH, phải hạ dần lãi suất đầu ra, đa dạng hóa tài sản đảm bảo, nâng dần tỉ lệ cho vay tín chấp. Phần doanh nghiệp cũng phải khắc phục những vướng mắc thì mới giải quyết được các vấn đề khó khăn hiện nay. * PGS.TS Trần Hoàng Ngân (phó hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế TP.HCM): Cần ủy ban khẩn cấp ngăn chặn “dịch” phá sản Dư nợ tín dụng từ đầu năm đến nay có tăng nhưng ở mức độ thấp: 1,44%. Đây chính là điều đáng lo ngại. Mặt khác, số lượng doanh nghiệp phá sản ba năm qua liên tục theo chiều hướng gia tăng kéo theo số nợ xấu tăng thêm... Thời gian qua, nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp được ban hành nhưng chưa thể đi vào cuộc sống vì nhiều lý do. Theo tôi, đã đến lúc cần lập một ủy ban khẩn cấp để ngăn chặn “dịch” phá sản của doanh nghiệp. Ủy ban này sẽ đứng ra để trực tiếp giải quyết những vấn đề của doanh nghiệp hiện nay. Còn thời gian qua, giải quyết khó khăn nhưng cơ quan quản lý chỉ kêu gọi một chiều NH giảm lãi suất cho doanh nghiệp, nhưng khi NH giảm lãi suất thì doanh nghiệp cũng không thể tiếp cận được vốn. Chưa kể NH, doanh nghiệp mỗi nơi nói một kiểu, rốt cuộc chính sách được ban ra nhưng vướng mắc vẫn còn nguyên không giải quyết được. ÁNH HỒNG ghi Theo Lê Kiên

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013

Nên nắm bàn tay để ghi nhớ hiệu quả hơn

Ruth Propper và các đồng nghiệp đến từ Đại học Montclair tại Mỹ thực hiện một thử nghiệm để xác định mối liên hệ của hành động nắm tay đối với khả năng ghi nhớ, Science Daily đưa tin. Nhóm nghiên cứu chia tình nguyện viên thành 4 nhóm. Mọi tình nguyện viên phải ghi nhớ một danh sách gồm 72 từ và sau đó liệt kê từng từ. Một nhóm nắm chặt bàn tay phải khi họ cố gắng nhớ từ và khi hồi tưởng các từ trong danh sách. Nhóm thứ hai nắm chặt tay trái khi ghi nhớ lẫn khi hồi tưởng từ. Những người trong nhóm thứ ba nắm chặt một bàn tay trong lúc ghi nhớ (tay trái hoặc tay phải) rồi nắm tay còn lại khi hồi tưởng. Nhóm thứ tư không nắm tay trong cả hai giai đoạn. Kết quả cho thấy, nhóm nắm tay phải khi ghi nhớ và sau đó nắm tay trái khi hồi tưởng nhớ nhiều từ nhất so với ba nhóm còn lại. “Phát hiện này cho thấy một số chuyển động cơ bản của cơ thể sẽ tạm thời làm thay đổi cách thức hoạt động của bộ não và làm tăng khả năng ghi nhớ. Các nghiên cứu trong tương lai sẽ giúp chúng ta khám phá các khả năng khác của hành vi nắm tay – chẳng hạn như nắm tay có thể làm khả năng nhận thức ngôn ngữ hoặc không gian hay không”, Propper phát biểu. Các nhà nghiên cứu cũng nói thêm rằng họ cần thực hiện những nghiên cứu tiếp theo để kiểm tra xem kết quả này có thể liên quan tới khả năng gia tăng ghi nhớ thị giác hay không (ví dụ: nhớ lại một khuôn mặt, một không gian, hay vị trí mà họ đặt chìa khóa).

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Điểm lại phản biện trái chiều về Bôxít Tây Nguyên

(Kienthuc.net.vn) - Nhân nhận định vừa đưa ra "Cảnh báo của các nhà khoa học về dự án Bôxít ở Tây Nguyên đang dần đúng", Kiến Thức xin điểm lại một số những ý kiến phản biện về Bôxít ở Tây Nguyên. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và một số nhân sĩ – trí thức Thảm họa vỡ hồ bùn đỏ Ajka ở Hungary xới lên cuộc tranh luận về tính an toàn của các dự án bô-xít Tây Nguyên, nhất là khi các dự án này đều ở trên cao. Các hồ chứa bùn đỏ sẽ là những quả bom độc treo trên đầu hàng chục triệu người với tai họa khôn lường...Không thể hình dung nổi nguy cơ thảm họa môi trường của một hồ chứa bùn đỏ hàng triệu hay hàng chục triệu m3 treo lơ lửng trên đầu đồng bằng sông Đồng Nai và Bắc Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ... Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cùng hàng loạt nhân sĩ - trí thức đã viết như vậy trong thư kiến nghị lên lãnh đạo Đảng, Nhà nước tạm dừng khai thác bô-xít Tây Nguyên. (Trong bài “Dự án bô-xít Tây Nguyên: Tiếp hay dừng?” - VEF/Vietnamnet , ngày 25/10/2010) ĐBQH Nguyễn Lân Dũng Tôi cũng sẽ chất vấn Bộ trưởng Bộ Công Thương, vì một số ý kiến lãnh đạo ở Bộ này bảo là Việt Nam khác Hungary vì Việt Nam có thung lũng. Nhưng họ quên là thung lũng ở trên cao, có rất nhiều đá vôi, đá vôi tan trong nước, bùn đỏ có khả năng sẽ ngấm xuống mạch nước ngầm, mà ngấm xuống nước ngầm thì nó chảy xuống cả Đồng bằng Nam Bộ, quá nguy hiểm! Ngoài ra, Đông Nam Bộ cũng đang bị đe dọa bởi hiện tượng dâng lên của mực nước biển. Vì thế, tương lai vùng này sẽ đối diện nhiều nguy cơ - mà đây lại là vựa lương thực của cả nước - nên rất đáng phải quan tâm. (Trong bài “Quốc hội cần có phản hồi về dự án bô-xít” - VEF/Vietnamnet, ngày 25/10/2010) Hồ điều hòa cho nhà máy bô-xít Tân Rai (Ảnh Vietnamnet) Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Không phải cứ đào tài nguyên lên bán là đời sống dân giàu lên. Người dân Quảng Ninh bao lâu nay bán than nhưng đời sống dân không giàu lên nhờ đó mà họ phải làm du lịch và nhiều ngành nghề khác vì thế đời sống của họ khá hơn. Theo tôi, chúng ta không thể nói rằng vì đời sống dân Tây Nguyên nghèo mà chúng ta triển khai dự án này vì những người chưa đồng tình với dự án vậy họ không muốn đời sống người dân khá hơn hay sao. Nói như thế là không đúng. Bằng chứng nhãn tiền là TKV đang khai thác than ở Quảng Ninh.. Nhà nước hoàn toàn có thể giúp cho đời sống của người dân Tây Nguyên khá hơn bằng cách trực tiếp bỏ tiền ra để hỗ trợ phương tiện, cải tạo sản xuất giúp bà con nâng cao năng suất, cây trồng, trồng trọt được đảm bảo, nâng cao chất lượng sản phẩm để các sản phẩm cafe, chè của Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Đó mới là sự hỗ trợ thiết thực nhất. Người dân vẫn có thể làm giàu trên nền tảng của sản xuất, văn hóa, môi trường và những gì họ đang có, chứ không phải giúp đỡ bằng cách đảo lộn đời sống, sinh hoạt, môi trường, văn hóa của họ lên. Tôi đồ rằng những người được mời tính cho dự án chỉ tính riêng cho dự án này chứ không phải tính tổng thể và chịu đến cùng về những tính toán của họ. Vậy sau này không thành công họ sẽ phải chịu trách nhiệm thế nào? (Trong bài “Bô xít Tây Nguyên được giám sát như siêu dự án quốc gia” – VnExpress, ngày 29/10/2010) Ông Nguyễn Văn Ban - Nguyên Trưởng ban Dự án nhôm (Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam - cũ) Thực tế mà nói không có tuyến đường sắt 3,3 tỷ USD trong tương lai gần. Vậy 2 nhà máy không có đường sắt, sản phẩm làm ra sẽ rất đắt, khó có tính cạnh tranh. Sản phẩm có bị mắc kẹt không? Tân Rai xây rồi, Nhân Cơ chưa xây, có nên chuyển Nhân Cơ ra bờ biển không? (Trong bài “Bô xít Tây Nguyên được giám sát như siêu dự án quốc gia” – VnExpress.net, ngày 29/10/2010) TS Nguyễn Thành Sơn - Giám đốc ban quản lý các dự án than đồng bằng sông Hồng thuộc tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (Vinacomin). Bùn đỏ không như xăng dầu chảy đi mà có thể hốt lại được, chỉ cần thoát ra ngoài kim loại nặng thấm vào nước ngầm hoặc theo sông đổ về hạ lưu là vô phương cứu chữa. (Trong bài “Khai thác quặng bôxit ở Tây Nguyên: Nhiều nguy cơ, chưa có giải pháp” – Tuổi Trẻ, ngày 24/10/2008) GS Đào Công Tiến - Nguyên hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP.HCM: Nguồn nước của Tây nguyên những năm gần đây sụt giảm nghiêm trọng, nếu trưng dụng nguồn nước cho khai thác bôxit, chắc chắn Tây nguyên sẽ chết vì thiếu nước. (Trong bài “Tây nguyên sẽ “chết” vì... khai thác bôxit” – Tuổi Trẻ, ngày 23/10/2008) Sơ đồ công nghệ Dự án Nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ (Ảnh Vietnamnet) Lê Hồng Hiệp - Thạc sỹ Quan hệ quốc tế và Ngoại giao - Đại học Quốc gia TP.HCM: Đã có rất nhiều nghiên cứu về các cuộc xung đột sắc tộc và ly khai ở các quốc gia và các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng có một mối liên hệ nhất định giữa việc khai thác tài nguyên thiên nhiên với nguồn gốc của các cuộc xung đột này. Có hai hiện tượng chủ yếu được sử dụng để lý giải cho mối liên hệ này, đó là "lòng tham" ("greed" - hay việc theo đuổi lợi ích vật chất) và "các mối bất bình" (grievances - hay sự bất bình của người dân bản địa đối với các hậu quả của việc khai thác tài nguyên thiên nhiên thuộc khu vực họ sinh sống). Thuyết "lòng tham" do hai nhà nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới là Paul Collier và Anke Hoeffler khởi xướng, trong đó hai nhà nghiên cứu này cho rằng việc theo đuổi các lợi ích kinh tế là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới các cuộc xung đột bên trong các quốc gia… …Qua những ví dụ trên chúng ta có thể thấy các lý thuyết lý giải nguồn gốc xung đột trên thế giới có một vài điểm phù hợp nhất định đối với cuộc tranh luận xung quanh dự án bô-xít Tây Nguyên, đặc biệt là về tác động của dự án này đối với vấn đề an ninh - quốc phòng. (Trong bài “Dự án bô-xít Tây Nguyên dưới góc nhìn nghiên cứu xung đột” – Tuanvietnam/Vietnamnet, ngày 27/04/2009) Nhà văn Nguyên Ngọc: Chúng ta đã hành động ở Tây nguyên rất thản nhiên, không hề quan tâm đến chỗ đây là một vùng đất và người rất đặc biệt về nhiều mặt. Thậm chí có thể nói chúng ta đã làm mọi việc ở Tây nguyên như là trên một vùng đất không người. Theo ông, nếu tiếp tục triển khai dự án như kế hoạch của TKV, chắc chắn không gian sống, không gian văn hóa của cư dân bản địa Tây nguyên sẽ bị đảo lộn, nếu không nói là bị xóa sổ. Người M’Nông, chủ nhân ngàn đời của vùng đất Đắc Nông, sẽ đi về đâu? Lời hứa của những người chủ trương dự án, những nhà đầu tư và thực thi dự án hứa với đồng bào M’Nông có bao nhiêu căn cứ? “Theo tôi, chúng ta đang đứng trước một quyết định mất còn. Và sẽ rất kỳ lạ nếu chúng ta làm chuyện quá ư to lớn này ở đây mà không hề nghĩ, không hề nhớ đến những gì đã diễn ra trong 30 năm qua. Những bài học lớn, sâu và cay đắng 30 năm ấy còn để lại, sờ sờ ra đấy, rất có thể lại dạy ta lần nữa, và thường vẫn vậy, lần sau bao giờ cũng nghiêm khắc hơn lần trước”! (Trong bài “Tây nguyên sẽ “chết” vì... khai thác bôxit” – Tuổi Trẻ, ngày 23/10/2008)