Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013
Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013
Xâm phạm không phận Nga, máy bay Trung Quốc không có đường về
(Soha.vn) - Biên giới Nga giáp với Trung Quốc được phủ một lưới lửa phòng không dày đặc để đón lõng mọi máy bay xâm phạm.
Sở hữu một lãnh thổ rộng lớn nên việc căng mình ra để bảo vệ đất nước là một bài toán hóc búa với Nga. Tuy nhiên, đối với Trung Quốc, Nga luôn 'ưu ái' thiết lập một hệ thống phòng không với những trang thiết bị khí tài hiện đại nhất có thể, bởi Nga chưa bao giờ hết nghi ngờ lòng tham của Trung Quốc với vùng Viễn Đông rộng lớn, giàu tài nguyên thiên nhiên.
Một hệ thống phòng không hoàn chỉnh bao gồm: hệ thống radar, hệ thống tên lửa và pháo phòng không, lực lượng không quân tiêm kích đánh chặn. Ở Viễn Đông, để đề phòng Trung Quốc, Nga cũng đã xây dựng đầy đủ các lực lượng như trên và được ưu tiên trang bị những khí tài, vũ khí hiện đại nhất.
"Mắt thần" soi lòng tham
Tới cuối năm 2012, Nga đã hoàn thành xây dựng 3 trạm radar mới, trong đó 2 trạm Voronezh-DM và Voronezh-M đã được đưa vào trực chiến tại tỉnh Leningrad và ở ngoại ô thành phố Irkutsk.
Trạm radar cảnh báo sớm tối tân Voronezh-M của Nga
Trạm radar cảnh báo sớm tối tân Voronezh-M của Nga
Trạm radar Voronezh-DM tại khu Krasnodar sẽ hoạt động vào thời gian tới và hoàn toàn có thể thay thế chức năng của trạm radar Gabala mà Nga từng thuê của Azerbaijan.
Trong năm 2013 này, Nga sẽ xây dựng cùng lúc thêm 3 trạm radar Voronezh mới tại Krasnodar, khu Altai và tỉnh Orenburg. Kế hoạch xây mới và tái trang bị các trạm radar sẽ được hoàn thành vào năm 2020.
Voronezh-M là loại trạm radar cảnh báo sớm tên lửa thế hệ mới nhất của Nga, có thể phát hiện ra mục tiêu từ cự li xa tới 6.500 km. Trạm radar cảnh báo sớm tên lửa Voronezh-M được bố trí ở vùng Irkutsk thuộc Siberia. Với vị trí này, rõ ràng là Nga đang muốn nắm mọi động tĩnh từ Trung Quốc.
Trạm radar cảnh báo sớm tối tân nhất Voronezh-M ở vùng Irkutsk thuộc Siberia giúp Nga soi mọi động tĩnh từ Trung Quốc
Vùng quan sát của trạm radar cảnh báo sớm tối tân nhất Voronezh-M ở vùng Irkutsk thuộc Siberia giúp Nga soi mọi động tĩnh từ Trung Quốc
Tất cả các mục tiêu trong tầm phát hiện của Voronezh-M đều được hiển thị rõ ràng lên một màn hình LCD cỡ lớn, độ phân giải cao để có thể đánh giá về đối phương. Nga đã lên kế hoạch xây dựng thêm 4 trạm radar này tại các khu vực Altai, Krasnoyarsk, Omsk và Orenburg.
Ngoài ra, còn hàng trăm các đài radar tầm ngắn hơn được Nga bố trí dọc biên giới vùng Viễn Đông, ngày đêm soi những động tĩnh từ Trung Quốc.
Tên lửa phòng không tối tân
Ngày 20/3/2013, Nga đã tiến hành cuộc tập trận lực lượng phòng không với hơn 500 hệ thống vũ khí phòng không, 50 máy bay chiến đấu và khoảng 2.000 binh lính, đã được triển khai tham gia một cuộc diễn tập phòng không quy mô lớn ở miền đông nước Nga.
Lực lượng phòng không Nga đã triển khai khoảng 500 hệ thống tên lửa phòng không các loại, gồm các hệ thống tên lửa đất đối không S-300, tên lửa phòng không Osa, Buk, Strela và Shilka, tên lửa phòng không vác vai Igla, và hệ thống tên lửa-pháo Pantsir-S.
Cuộc diễn tập phòng không quy mô lớn này, do tư lệnh Quân khu miền Đông, Đô đốc Konstantin Sidenko chỉ huy. Đây là cuộc diễn tập phòng không lớn nhất trong hàng chục năm qua. Có thể thấy rằng việc sẵn sàng chiến đấu ở khu vực miền Đông sát biên giới Trung Quốc luôn được Nga coi trọng một cách đặc biệt.
Qua cuộc tập trận, có thể thấy lực lượng khổng lồ các phương tiện phòng không hiện đại mà Nga bố trí sát biên giới Trung Quốc.
Không chỉ riêng công tác huấn luyện, việc đưa vào các trang bị mới cho quân khu Viễn Đông được Nga hết sức ưu tiên. Trong số các nơi được trang bị tổ hợp tên lửa phòng không hiện đại bậc nhất thế giới S-400 Triumf thì vùng Viễn Đông, giáp với Trung Quốc được 'ưu tiên' 2 trong 4 tổ hợp đầu tiên.
Vùng Viễn Đông sát biên giới Trung Quốc được ưu tiên tổ hợp S-400 Triumf
Vùng Viễn Đông sát biên giới Trung Quốc được ưu tiên tổ hợp S-400 Triumf
Không quân hiện đại
Sức mạnh lực lượng không quân của vùng Viễn Đông không ngừng được tăng cường. Cùng với mối quan hệ Mỹ - Nga trong thời kỳ Tổng thống Obama, mối quan hệ giữa Nga với khối NATO về cơ bản được cải thiện trong thế hòa hoãn. Nga tập trung sự chú ý trở lại vấn đề phòng vệ trên tuyến biên giới miền Đông.
Tạp chí "Bình luận Quân sự Hán Hòa" số tháng 4 dẫn lời một nhà quan sát quân sự ở Moscow (Nga) cho biết trong số 48 chiếc máy bay chiến đấu Su-35 được giao cho không quân Nga bắt đầu từ năm 2012, có ít nhất một trung đoàn Su-35 được bố trí ở căn cứ 6968 thuộc khu vực Viễn Đông, cách biên giới Nga - Trung khoảng 299 km.
Cùng với trang bị Su-35, Không quân Nga còn dần từng bước trang bị các loại tên lửa đạn đạo đa năng như tên lửa không đối không tầm xa RVV-SD, tên lửa không đối hạm Kh31AD.
Sức mạnh chiến đấu tổng hợp của 48 chiếc Su-35 sẽ vượt qua sức mạnh chiến đấu của 100 chiếc Su-30MKK hoặc 150 chiếc Su-27SK (J-11) của Không quân Trung Quốc.
Máy bay hiện đại Su-35 sẽ giúp Không quân Nga giành thế thượng phong trước Trung Quốc
Máy bay hiện đại Su-35 sẽ giúp Không quân Nga giành thế thượng phong trước Trung Quốc
Trước đó, Nga cũng đã bố trí toàn bộ số máy bay Su-27 SM và Su-30M2 loại mới nhất vào hai trung đoàn ở căn cứ không quân 6987 và căn cứ không quân 6989, lần lượt cách biên giới Nga - Trung 308 km và 61 km.
Ở đây không thể không nhắc tới sức mạnh tác chiến của máy bay ném bom tầm xa Su-34 và MiG-29SMT. Trong năm 2009, Không quân Nga còn tiếp nhận 34 chiếc MiG-29SMT. Trong thời gian từ năm 2010 đến 2013, Sukhoi bàn giao cho Không quân Nga 32 chiếc máy bay ném bom Su-34.
Thượng tướng Zelin nhấn mạnh: Không quân Nga sẽ tiếp tục cải tiến chiến đấu cơ MiG-31. Với vùng Viễn Đông rộng lớn của Nga, nhiệm vụ của chiến đấu cơ MiG-31 là hết sức nặng nề. Ông nhấn mạnh, Không quân Nga đã và đang tiến hành cải tiến 108 chiếc MiG-31 thuộc 9 đại đội, nhất là với hệ thống radar "tìm và diệt" trang bị trên loại chiến đấu cơ này là nhiệm vụ quan trọng của Không quân Nga trong thời kỳ quá độ trước năm 2015.
Các máy bay đánh chặn MiG-31BM (được mệnh danh là “chó săn chồn”) là một phiên bản nâng cấp gần đây giới thiệu của MiG-31, được trang bị một hệ thống kiểm soát hỏa lực mới, mở rộng phạm vi phát hiện mục tiêu của máy bay lên tới 320 km và phạm vi tham gia lên đến 280 km.
Ngoài ra, MiG-31 cũng được bổ sung thêm các chế độ hoạt động mới, trang bị hệ thống điện tử hàng không và buồng lái mới cũng như hệ thống định vị và tên lửa mới, bao gồm tên lửa không - đối - không tầm xa K-37M có tầm bắn lên đến 222 km và tên lửa sử dụng radar chủ động R-77-1.
Không quân Nga đang triển khai kế hoạch mới cho máy bay MiG-31BM, bao gồm việc bố trí luân phiên các phi đội tại các sân bay quân sự và cả dân sự trên toàn bộ lãnh thổ nước Nga, nhưng trước hết sẽ là vùng Viễn Đông và vùng lãnh thổ phía Bắc.
Trong quá trình định vị lại như vậy, các máy bay MiG-31BM sẽ thường xuyên di chuyển ở các khu vực vùng sâu vùng xa để lấp đầy "khoảng trống" của các hệ thống tên lửa phòng không.
Máy bay MiG-31 BM sẽ lấp đầy khoảng trống lưới lửa phòng không Nga
Máy bay MiG-31 BM sẽ lấp đầy khoảng trống lưới lửa phòng không Nga
Cùng với việc chuẩn bị bố trí Su-35 tại căn cứ 6968, có thể nói, hầu hết máy bay chiến đấu hiện đại nhất của Nga đều được bố trí ở khu vực gần biên giới Nga - Trung. Điều đó có nghĩa biên giới Nga - Trung vẫn là trọng tâm chú ý trong chiến lược không quân của Nga.
Về vấn đề này, một nhà quan sát quân sự ở Moscow thẳng thắn nói: “Không quân Trung Quốc và toàn bộ sức mạnh quân sự của nước này đã trở thành mối đe dọa lớn nhất trong số các nước mà Nga có đường biên giới chung. Nga ngăn cách với NATO bởi vùng đệm tự nhiên là Belarus và Ukraine còn với Trung Quốc thì không, nên việc không quân Nga tập trung mối quan tâm chiến lược ở Viễn Đông là điều tự nhiên".
Xét về tổng thể, theo tờ "Bình luận Quân sự Hán Hòa", nhờ sự có mặt của Su-35, không quân Nga sẽ giành lại được quyền kiểm soát trên không ở khu vực này. Đồng thời, nhờ được trang bị radar IRBIS với bán kính quét lên tới 400 km, về cơ bản, Nga có thể thám trắc toàn bộ vùng trời hai tỉnh Hắc Long Giang và Cát Lâm cũng như một phần vùng trời tỉnh Liêu Ninh của Trung Quốc.
Với hệ thống radar tối tân, lưới lửa phòng không dày đặc và dàn máy bay hiện đại bố trí sát biên giới Trung Quốc, Nga luôn luôn sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh với “người láng giềng khổng lồ nhiều âm mưu”.
Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013
‘Đất của Việt Nam’
Trong một cuộc phỏng vấ́n mới đây với BBC, ông Sam Rainsy, lãnh đạo đối lập Campuchia, cáo buộc Việt Nam đã sát nhập vào lãnh thổ của mình những vùng đất của người Khmer. BBC đã liên hệ với ông Nguyễn Đình Đầu, một nhà nghiên cứu lâu năm về địa bạ cũng như lịch sử khai khẩn miền Nam, Việt Nam, để tìm hiểu về vấn đề này.
BBC: Thưa ông Nguyễn Đình Đầu, gần đây trong một cuộc phỏng vấn với BBC, ông Sam Rainsy, lãnh đạo đối lập Campuchia có tố cáo Việt Nam ‘chiếm đất của người Khmer’. Ông nghĩ thế nào về điều này?
Ông Nguyễn Đình Đầu: Có một phần Campuchia là vùng ngập nước có rất ít người ở. Người Campuchia ở trên cao tức là Angkor Wat. Miền Nam (Việt Nam) hồi xưa thuộc về một nước khác là Phù Nam. Đến thế kỷ thứ 8 người Campuchia mới lác đác đến đó. Đến thế kỷ 16, 17 người Việt tự động đến đó làm ăn sinh sống.
Ông Mạc Cửu là người chống Thanh (tức người Hán không chấp nhận sự cai trị của người Mãn Thanh nên chạy sang Việt Nam) đi tới miền Campuchia vào khoảng năm 1688 và được Campuchia thừa nhận là người mở đất khai phá. Mạc Cửu lấy bảy thôn có những người Việt Nam đã từng ở đấy và một số người Hoa, một ít người Khmer là Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm, Rạch Giá và Cà Mau (và thủ phủ là Hà Tiên). Tất cả các miền này là từ Cà Mau và một phần của Bạc Liêu đến tới Kam Pong Thom là thuộc về Hà Tiên của Mạc Cửu.
Đến năm 1708 thì Mạc Cửu xin với Chúa Nguyễn cho Hà Tiên thuộc về Đại Việt, thuộc về Đàng Trong. Như vậy là từ trên 300 năm nay tất cả các miền đó, tức là cả miền đáng lẽ lên đến Kam Pong Thom là thuộc về Việt Nam.
Trong các bản đồ, trong các tư liệu có tính cách quốc tế hoặc do người Việt Nam vẽ, hoặc do người ngoại quốc vẽ đều đã thừa nhận miền đất đó là của Việt Nam.
Đặc biệt ở những miền thí dụ như ở Phú Quốc thì ngày từ hồi đầu tiên không có người ta, không có người Khmer ở. Tôi là người nghiên cứu về địa bạ, tức là về đất và người ở những miền đó trên 200 năm nay, đã làm địa bạ ở Phú Quốc đấy thì (thấy) Phú Quốc đã gồm 10 xã thôn toàn là người Việt Nam cả. Riêng Phú Quốc đã ở trong Hà Tiên trên 300 năm nay vẫn làm ăn sinh sống bình thường và cư xử với người Khmer không có gì tranh chấp cả.
Tôi thấy bây giờ đòi lại thì chuyện ấy chẳng khác gì người Việt Nam đòi lại Quảng Đông, Quảng Tây cả vì câu chuyện đó đã xa xưa rồi, nay nó đã thay đổi rồi. Chẳng hạn như là Thế chiến thứ nhất bản đồ Âu châu đã vẽ lại. Đến Thế chiến thứ Hai thì cũng vẽ lại một phần. Đấy là những chuyện trong thời gian gần đây.
Còn đối với những miếng đất mà Campuchia cho là của mình đã thuộc về Việt Nam trên 300 năm nay không có tranh chấp gì cả suốt qua thời Pháp.
BBC: Theo như ông nói thì khi Mạc Cửu vào vùng Hà Tiên để mà khai pháp thì lúc này trên vùng đất này đã có người Khmer sinh sống rồi. Vậy nếu người Khmer lấy lập luận đấy mà bảo đấy là đất của họ thì có đúng không?
Ông Nguyễn Đình Đầu: Nói về dân số thì có người Khmer nhưng trong lịch sử cũng nói rõ ràng đó là trong bảy xã thôn thì đa số là người Việt Nam, rồi có nói rõ nữa là có một số người Hoa nữa, rồi một số người có lẽ là người Malay. Tất nhiên cũng có một số người Campuchia, nhưng không thể nói rằng vì có một số người Campuchia mà trong 300 năm nay thành ra đất của Việt Nam mà bây giờ đòi lại thì cái đó đứng về phương diện công pháp quốc tế tôi thấy không thích hợp, không chính đáng.
BBC: Lý do vì sao không chính đáng? Tại vì người Việt Nam chiếm số đông và người Việt Nam khai phá vùng đất này nên theo công pháp quốc tế là của Việt Nam?
Ông Nguyễn Đình Đầu: Đúng là Việt Nam khai phá. Nếu ai mở bản đồ cổ ra thì thấy địa danh Hòn Đất (khác với địa danh Hòn Đất thuộc tỉnh Kiên Giang ngày nay) ngày xưa là có một giám mục Công giáo lập một chủng viện, một trường cho học sinh ở đấy. Hòn Đất nó ở bên trên Hà Tiên khá nhiều, nó ở giữa Hà Tiên với Kam Pong Thom. Nếu mang những sách nghiên cứu về những người khám phá thời gian đó, đi thám hiểm đất đai thời đó, những bản đồ thời đó thì rõ ràng trên miền đất Campuchia bây giờ mà những bản đồ ấy còn ghi địa danh Việt Nam. Nếu đã là địa danh Việt Nam thì tất nhiên người Việt Nam ở đấy đa số.
BBC: Nhưng ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng có những địa danh do người Khmer đặt theo tiếng của người Khmer như kênh Xà No chẳng hạn?
Ông Nguyễn Đình Đầu: Cái đó thì có. Cái địa danh như Sài Gòn đó cũng là từ tiếng Khmer mà ra. Chúng ta biết rằng ngày xưa người Việt Nam dùng tiếng Việt Nam chứ ít khi dùng chữ Hán Việt. Khi viết thì tất nhiên dùng chữa Hán vì hồi đó ta chưa có chữ viết. Ngay cả những địa danh của người Champa ở miền Trung đến bây giờ vẫn để nguyên như Nha Trang chẳng hạn.
BBC:V ậy thì người Khmer lấy lý do là một số địa danh mang tiếng Khmer thì đấy là đất của họ. Lập luận đấy có đúng không?
Ông Nguyễn Đình Đầu: Nếu lấy lý do đấy thì người Champa phải phục hồi đất nước của họ à? Đất nước của họ rất mạnh từ thế kỷ thứ hai. Đất nước Việt Nam đến thế kỷ thứ 10 mới xuất hiện. Họ mạnh hơn nước Việt Nam hồi đó rất nhiều. Nhưng mà lấy lý do như vậy thì không còn đời sống bình thường của loài người nữa vì loài người có sự thay đổi, biến chuyển, lúc lên, lúc xuống, lúc mạnh bên này, yếu bên kia hay là thay đổi thế nào đó thì chúng ta bây giờ phải chấp nhận sự thực của lịch sử.
BBC: Theo như ông nói thì người Việt đã có công khai phá vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vậy thì trước khi người Việt đến thì người Khmer họ ở đây họ đã không khai phá vùng đất này nhiều à thưa ông?
Ông Nguyễn Đình Đầu: Theo sự nghiên cứu của tôi về ruộng đất, về địa bạ thì lúc bấy giờ không chỉ có người Khmer mà còn có người thiểu số... Đa số là họ chỉ ở trên các đồi gọi là trên các giồng thôi không quen lúa nước như người Việt Nam. Còn người Việt Nam thì ngay từ ngoài Bắc ở đồng bằng sông Hồng đã quen thói quen làm lúa nước. Cho nên gần như là trên 300 năm nay gần như có sự phân công tự nhiên: người Việt ở đồng bằng còn một số ít người Khmer hay người dân tộc thiểu số ở trên các giồng. Dần dần về sau thì họ rút lên miền Trung hoặc miền cao hơn.
BBC: Còn câu chuyện của người Pháp? Khi người Pháp đến Đông Dương thì họ vẽ bản đồ của ba nước Đông Dương có phải họ tự ý sát nhập vùng Đồng bằng sông Cửu Long vào lãnh thổ Việt Nam mà việc này không được sự đồng ý của người Khmer hay không?
Ông Nguyễn Đình Đầu: Nếu ta coi lại các bản đồ lịch sử tôi lấy ví dụ như bản đồ Việt Nam nhất thống toàn đồ hay bản đồ Taberd (do giám mục người Pháp Taberd vẽ) cũng năm 1838, hai bản đồ cùng năm 1838, thì thấy nước Việt Nam, tôi xin lỗi nhé, nó gần như to hơn Đông Dương của Pháp vì những nước ấy như nước Lào chưa được thống nhất còn nước Campuchia thì đương yếu thế bị nước Xiêm La (Thái Lan) xâm lấn. Nếu mà nước Việt Nam không tới thì có lẽ nước Campuchia đã bị Xiêm La đô hộ rồi. Sự tới sâu vào bên trong phía Campuchia cũng là do các vua chúa, chính quyền và chính người Campuchia yêu cầu Việt Nam đến để coi như là để giúp giữ được chính quyền đối với người Xiêm La. Tất nhiên mọi người đều viện lý do này lý do kia, thế này thế kia nhưng trong thực tế của thời đó chúng ta không thể lấy tư tưởng bây giờ mà nói được mà đấy là tình hình 300 năm về trước.
BBC: Thế còn bản đồ cổ của người Khmer thì như thế nào? Có bao giờ Vương quốc Khmer trong bản đồ họ có vẽ bao gồm luôn cả miền Nam Việt Nam hiện nay không?
Ông Nguyễn Đình Đầu: Người Khmer về kiến trúc thì rất là giỏi, thế nhưng vẽ bản đồ thì không rõ ràng. Tôi chuyên nghiên cứu các địa danh thì các địa danh chính quyền thì bên phía Lục Chân Lạp chứ còn Thủy Chân Lạp địa danh rất là ít.
Chứng tỏ rằng Campuchia không có cai quản, cai trị một cách trực tiếp. Từ năm 1623 khi vua Chey Chettha II để cho Chúa Nguyễn lập Sài Gòn và Bến Nghé – hai địa điểm ấy từ thời đó đến nay đã là 400 năm rồi đã thuộc về Việt Nam. Không phải những đồn thu thuế ấy ở chỗ người Campuchia. Lúc bấy giờ đã có người Việt Nam đến làm ăn sinh sống nên lập đồn thu thuế là để lấy thuế của người Việt Nam và để giúp người Việt Nam sinh sống ở đó từ thời đó.
Điều tôi vừa nói ở trong Biên niên sử Khmer nói ra chứ không phải chính sử Việt Nam.
Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013
Cúng sao, giải hạn: Một thói quen cần thay đổi!
Hãy tin vào nhân quả thay vì... dâng sao giải hạn
Niềm tin vào việc dâng sao hạn này vốn không nằm trong giáo lý đạo Phật nhưng từ lâu đã có mặt trong sinh hoạt của người dân và ngày càng trở nên phổ biến.
Hình thức “sao chiếu” là như thế nào?
Sao chiếu mệnh bắt đầu từ Trung Quốc, vấn đề này được các pháp sư phái Mật Tông thu nạp và soạn ra “Nhương tinh” để đưa dẫn người vào đạo. Mỗi người sinh ra đều có một vì sao chiếu mệnh tùy theo mỗi năm.
Theo quan niệm, trên trời có chín vị Thần sao luân phiên quản lí sinh mạng con người. Chín Thần sao ấy có tên là: La Hầu, Thổ Tú, Thuỷ Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hớn, Kế Đô, Thái Âm và Mộc Đức. Kể từ mười tuổi trở lên, mỗi năm con người sẽ bị chi phối bởi một vị Thần sao.
Tuy vậy, dù cùng một tuổi nhưng Thần sao của Nam và Nữ lại khác nhau. Chẳng hạn, cùng năm mươi ba tuổi, nam là sao Thái Âm mà nữ là sao Thái Bạch.
Thêm nữa, ngoài việc mỗi người hàng năm có một Thần sao quản lý, bên cạnh còn phụ thuộc vào cung nào trong tám cung và thuộc hạn gì trong các hạn.
Tám cung này chính là Bát quái trong Kinh Dịch, đó là: cung Càn, cung Khảm, cung Cấn, cung Chấn, cung Tốn, cung Ly, cung Khôn và cung Đoài. Còn các hạn thì rất nhiều, như hạn Huỳnh tuyền, hạn Thái sơn, hạn Mộc ách, hạn Tán tận mộc ách, hạn Cát lợi mộc ách, hạn Nhập mộ kim lâu, hạn Toán tận nhập mộ, hạn Thái sơn kim lâu và hạn Huỳnh tuyền nhập mộ.
Do vậy, theo Đại đức Thích Thanh Định, trụ trì chùa Từ Xuyên (Phường Hoàng Diệu, tỉnh Thái Bình) thì thông thường, những người tin theo sao hạn, năm nào gặp sao La Hầu, Kế Đô và Thái Bạch thì họ rất lo sợ vì cho rằng, ba sao ấy rất hung dữ và xui xẻo. Và cũng theo quan niệm thì trong chín sao thì chỉ có sao Môc Đức là hiền lành.
Năm nào bị sao xấu chiếu mệnh, con người sẽ gặp phải chuyện không may, ốm đau, bệnh tật…gọi là vận hạn. Nặng nhất là “nam La hầu, nữ Kế đô”. Theo đó, để giảm nhẹ vận hạn người ta thường làm lễ cúng vào đầu năm tại nhà ở ngoài trời với mục đích cầu xin thần sao phù hộ cho bản thân, gia đình. Điều này đã khiến cho nhiều nơi còn coi đây là tục lệ hay phong trào.
Hàng ngày, hãy tu tập tốt để thọ nhận quả lành
Khi đức Phật Thích Ca đi xuất gia, có bốn dấu hiệu mà đức Phật nhìn thấy là sinh, lão, bệnh, tử. Theo đó, con người ta ai cũng phải trải qua các giai đoạn sinh ra, lớn lên, già nua và chết đi. Đó là những điều bình thường, là quy luật tất yếu của tự nhiên và cuộc sống.
Trong các Kinh đức Phật dạy về Nhân quả hay Nghiệp, Ngài đã phân tích và xác định rất rõ ràng về con người. Như kinh Trung Bộ ghi: “Tất cả chúng sinh đều có cái nghiệp của riêng mình”.
Về vấn đề trên, Đại đức Thích Thanh Định cho hay: Trong Kinh, Đức Phật xác định cụ thể là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào đã làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy.
"Vì vậy, đã là Phật tử tại sao không tin nhân quả? Không chuyển nhân quả? Không nương tựa Tam bảo? Không nương tựa chư Phật, chư Bồ-Tát? Bởi chư Phật, Bồ-Tát là những bậc đầy đủ đại trí tuệ, đại từ bi và sáu thứ thần thông, là những bậc hoàn toàn giải thoát. Người Phật tử không tin tưởng, không nương tựa vào đó mà lại nương tựa vào Trời, Thần, Quỷ...là những chúng sinh đang bị luân hồi sanh tử trong tam giới, là thế nào?” – Đại đức Thích Thanh Định "chất vấn".
Ông nói tiếp: "Chư Phật, chư Tổ đã trải lòng từ bi lo lắng, thương xót chỉ dạy cho chúng ta tận tâm như thế; về phía chúng ta, tin và thực hành lời dạy của các Ngài hay không là trách nhiệm của mỗi chúng ta.
Nếu ai tin thì sẽ hoán chuyển nhân quả hay nghiệp xấu ác thành nhân quả hiền thiện, để tiến dần trên con đường giải thoát, hầu đạt được mục đích sau cùng. Ngược lại, ai không tin là tự trói mình trong thế giới tà đạo, để tiếp tục chịu muôn vàn khổ đau trong tam giới (ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh – PV)".
Cũng theo Đại đức Thích Thanh Định thì không ai và không thế lực siêu nhiên hay vô hình nào có thể thay đổi được hiện tiền của chúng ta. Tất cả đều phụ thuộc vào công đức tu tập của mình ra sao làm thôi
Hơn nữa, trên trời có hàng nghìn vì sao nên không thể gắn vì sao này với người này và vì sao nọ với người kia được. Đó chỉ là sự vô lí, mù quáng tin vào sự ngộ nhận của thế lực thần linh nào đó.
“Con người ta sống trên thế giới sa bà này có nhiều phiền não, nhiều suy nghĩ đắn đo. Do vậy, chúng ta luôn phải có tâm sáng để mà nhìn nhận đánh giá biết như nào là đúng, sai. Từ đó, áp dụng giáo lý nhà Phật vào cuộc sống một cách khoa học và hiệu quả nhất, đặc biệt là phải luôn cố gắng tu tập thân, khẩu, ý cho tốt để tạo thêm phước đức, chuyển nghiệp xấu thành điều lành” – Đại đức Thích Thanh Định khẳng định.
Cúng sao, giải hạn: Một thói quen cần thay đổi!
http://phatgiao.org.vn/van-de-quan-tam/201303/Cung-sao-giai-han-Mot-thoi-quen-can-thay-doi-9819/
Ngay cả đức Phật cũng từng nói “Ta không có khả năng ban bố phước lành, và cũng không có khả năng giáng họa cho bất kỳ ai, tất cả việc xấu tốt là do nghiệp báo và nhân quả của các con mà thôi” (Đức Phật và Phật Pháp, tác giả Narada Thera, NXB Chùa Giác Ngộ)
Những ngày xuân Quý Tỵ chưa qua hết, đây đó khắp nơi trên đất nước chúng ta, nơi những địa điểm thờ tự tôn giáo tâm linh, vẫn còn rất nhiều người tranh thủ thời gian để tìm đến. Bên cạnh ý nghĩa lễ bái, vãn cảnh đầu năm ở những ngôi chùa thờ Phật, không ít một số bà con còn có những thói quen bói quẻ, xin xăm, cúng sao, giải hạn, xem vận mạng tốt xấu qua tuổi, tử vi...là một miền quê nơi chùa Thiên Phước, khi khả năng nhận thức của người dân về giáo lý Đức Phật còn hạn chế, nên tình trạng trên của một số bà con đi chùa làm cho người tu Phật ở chùa rất lấy làm trăn trở của những ngày đầu năm mới.
Như chúng ta đã biết, tất cả mọi người học Phật ai cũng hiểu giáo lý nhà Phật đều dựa trên căn bản là Nhân Quả, nếu nói cho đủ là Nhân Duyên Quả.
Nhân là hạt giống, và nhờ Duyên ( thời tiết, chăm sóc, kỹ thuật...) Quả là kết quả do gieo Nhân mà được, nên một đời sống của một cá nhân hay cộng đồng đều do nhân quả mà ra. Do vậy khi một người gieo nhân dù tốt hay xấu thì nhất định người đó phải nhận lấy kết quả tốt hoặc xấu mà mình đã gieo. Nếu muốn hóa giải quả xấu, thì phải nỗ lực tu tập, trì chay, giữ giới, gieo nhiều việc thiện.
Hiểu được vậy nên ngay từ khi bắt đầu gieo nhân chúng ta nên chọn lựa giống tốt xấu, nếu vô tình hay cố ý gieo nhân khi phát hiện là nhân xấu, chúng ta có thể nhờ Duyên trợ giúp để chuyển hướng quả đến mục đích tốt hơn. Ví dụ: chúng ta gieo Nhân sát sanh nhiều, thì chúng ta biết chắc hậu Quả của nó sẽ đến với mình là bệnh tật, thọ yểu, hay thường gặp những tai nạn phạm thân, thậm chí phải đền mạng, khi biết được thế, chúng ta nỗ lực sám hối hành trì tụng kinh, bố thí cúng dường, phóng sanh...(Duyên) thì Quả trổ đến sẽ chuyển hướng khác, hoặc bị triệt tiêu. Nên trong đời sống hằng ngày, chúng ta thọ nhận những điều tốt xấu là đều do chúng ta tạo nhân cả, nên khi quả đến tốt thì chúng ta hạnh phúc, và ngược lại quả xấu chúng ta đành phải chấp nhận và bình tỉnh để hóa giải nó, hướng nó đến một kết quả tốt đẹp hơn, mà trong Phật ngữ gọi là Giải nghiệp.
Do không hiểu được vậy nên đầu năm nhiều người đến chùa để xin quẻ, bói toán, cúng sao giải hạn... là đi ngược lại giáo lý nhà Phật, vì bởi khi nhờ nhà chùa cúng sao cho tuổi của mình, thì có khẳng định rằng trong năm không gặp một rủi ro nào? chắc không ai dám khẳng định điều đó, nhưng nếu có xảy ra tai nạn rủi ro vậy số tiền mà mình bỏ ra cúng sao giải hạn là vô ích, và số tiền bỏ ra dù nhiều ít cũng chưa dám chắc được điều không gặp rủi ro, và có nhiều người bỏ ra vài chục ngàn tiền lẻ thì làm sao sánh nỗi một sự rủi ro, trong khi một tai nạn giao thông xảy đến thì số tiền chi phí không thể lường được, thậm chí mất mạng, biết thế nhưng hằng năm những ngày đầu năm mới vẫn có rất nhiều người tìm đến chùa chiền, miếu phủ...để lặp đi lặp lại những sự việc nêu trên.
Một giả định khác, nhiều người cứ đinh ninh rằng nếu đem tiền vào chùa cúng sao, giải hạn thì tật bệnh sẽ qua, tai nạn sẽ không đến. Điều này giống như là việc đút lót tiền cho thần thánh để được một hồng ân nào đó phía sau, sẽ được thần thánh hỗ trợ hoặc ban bố phước lành; suy nghĩ như thế thật có tội, vô tình đưa các vị ấy vào những người nhận “đút lót”, ra tay nâng đỡ những ai biết điều, còn những ai không biết điều, không cúng kiến thì các vị sẽ “hững hờ”, nếu làm vậy thì các vị ấy đâu còn gọi là từ bi, thương chúng sanh bốn loài? Ngay cả đức Phật cũng từng nói “Ta không có khả năng ban bố phước lành, và cũng không có khả năng giáng họa cho bất kỳ ai, tất cả việc xấu tốt là do nghiệp báo và nhân quả của các con mà thôi” (Đức Phật và Phật Pháp, tác giả Narada Thera, NXB Chùa Giác Ngộ)
Nếu cho rằng số phận con người nằm trong vận mệnh của trời đất, theo quy luật tuần hoàn của vũ trụ?!. Nếu vậy, ví dụ như năm nay, theo quan niệm những người ở tuổi 31 đang bị sao xấu, có tam tai lớn trong năm, vậy thì tất cả những người năm nay 31 tuổi không đi cúng sao đều gặp tai ương lớn trong năm, và sẽ không qua khỏi? Vậy thì năm sau, số người 32 tuổi sẽ không còn bao nhiêu nữa. Và dân số đất nước sẽ giảm mạnh vì cứ đến 31 tuổi thì có hàng loạt người không qua khỏi. Thực tế thấy rằng, dân số vẫn tăng nhanh, và tai nạn thì không trừ bất kỳ lứa tuổi nào.
Những nhận thức mang tính hủ tục lâu dài ấy, không phải một sớm một chiều có thể làm thay đổi thói quen trong suy nghĩ của số người đến chùa cầu sao giải hạn. Hơn nữa nhiều chùa ở Việt Nam nói chung đang nằm trong thực trạng này, ảnh hưởng bởi Phật giáo bắc truyền, và dường như đã trở thành một truyền thống, kế tục từ nhiều đời. Mạnh dạn bỏ hủ tục này thì khó tiếp cận được với nhiều người, vì cúng giải hạn đầu năm lại là biện pháp tâm lý để tìm lấy sự bình yên, nhưng nếu giữ thì lại thì thật sự không ổn.
Trước thực trạng này nếu nhà chùa, nhất là ở vùng quê chúng tôi nếu không đáp ứng được cho một số người này thì cũng mất đi một cơ hội "hoằng pháp" vì những đối tượng này mỗi năm chờ có cơ hội này mới đến chùa, và nếu không đáp ứng được nhu cầu của họ thì ở những ngôi chùa quê này xem như ít người lui tới, và cơ hội để họ tiếp xúc Phật pháp ngày càng xa, và nếu phục vụ cho họ thì xem như nhà chùa trực tiếp truyền bá mê tín dị đoan.
Do đó, xuất phát từ thực tế, chùa Thiên Phước chúng tôi đang cố gắng từng bước thay đổi thói quen về niềm tin lệch ấy.
Trước tiên hết là những người ở chùa phải đặt mục tiêu truyền bá chánh pháp, lợi lạc chúng sanh là chính, do đó không vì cái lợi ích nhỏ trước mắt mà bỏ quên hạnh nguyện của mình, và đồng thời khi tiếp xúc đối tượng này phải nói giáo lý Nhân Quả nghiệp báo cho họ hiểu, và hướng họ đến với Phật pháp làm nhiều việc thiện cho mình cho người, và có thể khuyên họ quy y Tam Bảo, khi đã trở thành là Phật tử, hiểu được giáo lý Đức Phật, chính họ là người hộ pháp đắc lực cả tài vật lẫn tinh thần, muốn được điều này thiết nghĩ mỗi chùa nên có những đạo tràng tu học, thỉnh mời chư vị tôn túc giảng sư, đến để truyền trao kiến thức cho họ. Điều này đã được chùa Thiên Phước thực hiện gần bốn năm qua, và kết quả gần 800 Phật tử đã quy -y, và hiện tại đạo tràng tu học hơn 200 vị, và trong những ngày đầu năm mới những Phật tử này không vướng phải những tập tục không lợi ích nêu trên, và chính họ là những người hộ pháp rất đắc lực mỗi khi nhà chùa cần đến.
Trăn trở đầu năm mới, cũng là cầu nguyện tất cả mọi người đều vượt qua những quả khổ, và hướng về lời dạy của Đức Thế Tôn, ứng dụng vào trong đời sống thường ngày để được an lạc, hạnh phúc hiện tại và tương lai.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013
Kỳ lạ chữa gãy xương bằng thổi hơi trầu và đọc thần chú
Mỗi “liều thuốc” của cụ là một miếng trầu, và cứ ba ngày lại thổi ba lần như thế. Anh Thành thấy đỡ đau từng ngày, chưa hết một mùa trăng anh đã cảm thấy rất rõ rằng, những đoạn xương gãy khục từng làm anh đau đớn đã bắt đầu liền.
141 Hà Nội bị “tố” đánh gẫy xương gò má người dân
Sơ cứu khi bị tai nạn gẫy xương
Trong dân gian hiện nay vẫn còn lưu giữ rất nhiều những bài thuốc mà có lẽ chẳng một bác sĩ Tây y ở thế kỷ 21 nào thừa nhận. Thế nhưng, dù có thừa nhận hay không, có muốn tin hay không thì thực tế, những bài thuốc kỳ lạ ấy đã có công dụng với hàng nghìn người.
Mẹ con cụ Bùi Thị Quyết, Bùi Thị Hòa với bài thuốc chữa gãy xương chỉ bằng thổi hơi trầu và những câu thần chú là một ví dụ sinh động. Hơn hai mươi năm nay, mẹ con bà đã mang bài thuốc gia truyền để làm phúc cho thiên hạ, bởi với họ, điều kỳ lạ ấy đơn giản là “lộc của giời”.
Người bệnh liền xương mà không cần thuốc
Nhà cụ Bùi Thị Quyết (xóm Mỏ Ngô, xã Hợp Thành, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình) không nằm gần đường cái quan, không có bạt ngàn thuốc nam, cũng chẳng có ai là bác sĩ cả. Thế nhưng nhiều năm qua, người Mường ở Kỳ Sơn (Hòa Bình) đã quen với việc hễ gãy xương là tìm đến nhà nhờ cụ thổi hơi trầu, đọc thần chú để chữa trị.
Chỉ riêng xã Hợp Thành thôi cũng không thể kể hết những người đã liền xương nhờ bài thuốc của cụ. Bà Bùi Thị Ký là người cùng xóm Mỏ Ngô, cách đây đã lâu bà từng bị gãy cổ tay trái, con cháu đưa bà đến bệnh viện để các bác sĩ băng bó tay cho bà. Nhưng các bác sĩ cũng bảo, ở cái tuổi đã quá lão hóa thế này rồi thì xương của bà chẳng có nhiều hy vọng để liền lại được đâu. Bà Ký về nhà với cái tay trái sưng u lên, đau nhức không thể nào ngủ được. Bà bước thấp bước cao đến nhà cụ Quyết nhờ cụ thổi trầu, thế mà chỉ sau 3 ngày, cái tay sưng phồng của cụ đã xẹp hẳn, cơn đau cũng dịu đi nhiều phần.
Ông Bùi Văn Sơn là người cùng xã Hợp Thành, ông đến gặp cụ Quyết với cái xương sườn bị rạn do bò húc. Thế mà chỉ đến nhà cụ ba bận, ông đã lại dong bò ra bãi như bình thường. Tiếng lành đồn xa, từ ngày ấy, không chỉ người Hợp Thành, mà bà con khắp các xã trong huyện Kỳ Sơn, rồi khắp nhiều nơi trên cả nước đều tìm đến cụ mỗi lúc gặp rắc rối về xương; nhiều người ở xa, gãy xương nặng còn đưa cả xe con đến rước cụ đi chữa bệnh.
Có một ca gãy xương rất nặng mà cụ Quyết không thể quên được, ấy là trường hợp của anh Trần Văn Thành ở Hà Đông (Hà Nội). Anh Thành đến nhà cụ trên chiếc cáng, lúc ấy anh Thành đang trong trạng thái hôn mê nặng. Anh bị tai nạn gãy xương bả vai và xương đùi. “Bắt” được những đoạn xương gãy của anh Thành rồi, cụ động viên gia đình: “Cứ ở lại đây với mế, một mùa trăng thôi là xương của cháu sẽ liền lại như bình thường.” Thế là đều đặn, cứ ba ngày một lần, cụ Quyết kính cẩn đỡ đĩa trầu trên ban thờ xuống, bỏm bẻm nhai rồi thổi phù phù vào những khúc xương bị gãy của anh Thành.
Mỗi “liều thuốc” của cụ là một miếng trầu, và cứ ba ngày lại thổi ba lần như thế. Anh Thành thấy đỡ đau từng ngày, chưa hết một mùa trăng anh đã cảm thấy rất rõ rằng, những đoạn xương gãy khục từng làm anh đau đớn đã bắt đầu liền. Sau đúng một mùa trăng, anh Thành đi lại khắp trong nhà, ngoài ngõ nhà cụ Quyết, vừa đi vừa sờ nắn cái xương đùi, cái xương bả vai như thể được ban tặng một phép màu. Nắm bàn tay nhăn nheo của cụ Quyết, anh Thành rưng rưng: “Không gặp được mế, chắc con chẳng còn được sống đến ngày hôm nay”.
Cụ bà Quách Thị Con ở xã Dân Hạ (huyện Kỳ Sơn) có lẽ là bệnh nhân đặc biệt nhất của phương thuốc lạ kỳ này. Bởi cụ Con sinh năm 1916, đã ở cái tuổi gần đất xa trời. Mới hai tháng trước, cụ Con trượt ngã ở cái góc giếng bên chái nhà. Xương người già giòn như… khúc mía, cụ bị nứt xương cụt, đau đớn vô cùng, suốt mấy ngày dài, cụ chỉ có thể nằm nghiêng. Các con cháu cụ tìm đến nhà bà Đinh Thị Hòa (là con gái của cụ Quyết - người duy nhất trong gia đình học được phương pháp chữa bệnh đặc biệt này), nhờ bà sang thổi trầu giúp cụ Con. Sau 2 cữ trầu, cụ Con đã bớt đau thấy rõ, các con cháu không còn thấy cụ rên rẩm như năm hôm trước nữa.
Bài thuốc bí truyền đến từ rừng xanh núi đỏ
Chúng tôi đem cái cách chữa bệnh kỳ lạ, tưởng như… hoang đường của mẹ con cụ Quyết hỏi bà trạm trưởng trạm y tế Hợp Thành – bà Nguyễn Thị Nhung. Bà Nhung dè dặt: Với khả năng của tôi, tôi không dám và cũng không thể lý giải được bản chất việc thổi trầu, đọc thần chú của cụ Quyết là thế nào. Phương pháp của cụ có hiệu quả ra sao, hiệu quả vì đâu thì có lẽ phải nhờ các nhà khoa học vào cuộc. Thế nhưng có một điều mà tôi chắc chắn là từ trước đến nay, chúng tôi chưa từng nghe nói cụ Quyết chữa bệnh lừa đảo, gây mất an ninh trật tự địa phương hay vì tiền nong gì, cụ chữa bệnh không đòi hỏi trả công, ai thành tâm dăm ba nghìn cũng được, mà không có cũng chẳng sao. Và một điều chắc chắn nữa là, đã có rất nhiều người bị gãy xương, rạn xương, dù nặng hay nhẹ đều khỏi nhờ phương pháp chữa trị của cụ.
Bà Hòa đang đọc thần chú trước khi thổi trầu cho bệnh nhân.
Ông Nguyễn Bá Bờm là người xã Phúc Tiến (huyện Kỳ Sơn), ông cũng đã được cụ thổi trầu, đọc thần chú như thế. Cái lần ông Bờm đi lấy gỗ trên rừng, ông bị cả một thân gỗ đè lên người, một bên mông của ông vừa bị gãy, vừa giập nát. Các con khiêng ông đến xóm Mỏ Ngô nhà cụ Quyết, ông thấy cụ chỉ lấy trầu nhai rồi thổi vào vết thương của mình, ông chán nản nghĩ: “Thế này thì khỏi làm sao được”? Thế mà chỉ một tuần sau ông đã không thấy nhức, da thịt cũng đã lành. Sau một tháng ông Bờm đi lại được, khi ông đi kiểm tra ở viện, kết quả chụp X-quang của ông là xương hông đã được nối liền.
Về phương thuốc bí truyền của gia đình mình, cụ Quyết kể rằng mẹ chồng cụ - cụ Quách Thị Ền - là con gái bản Dao ở mãi miền núi cao, còn cao hơn cả Hòa Bình, còn sâu, xa hơn cả cái xã cuối cùng của huyện Đà Bắc trong tỉnh cụ. Cụ Ền từ khi về làm dâu đất Kỳ Sơn là đã bắt đầu chữa các bệnh về xương cho bà con trong vùng. Khi cụ Quyết về làm dâu, cụ được các bô lão trong bản kể lại rằng thời chiến tranh, mẹ chồng cụ còn có khả năng thổi được cả những… mảnh đạn ra khỏi cơ thể người bị thương!
Suốt những năm làm dâu cụ Ền, chưa bao giờ cụ Quyết thấy mẹ chồng nói đến việc truyền dạy lại bài thuốc kỳ lạ cho ai. Chỉ đến khi đã ở tuổi cổ lai hy, cụ Ền mới truyền lại cho cô con dâu Bùi Thị Quyết, khi đó cụ Quyết đã 60 tuổi. Chính cụ Quyết cũng rất ngạc nhiên, không hiểu tại sao trong hơn mười người con, cả dâu, rể, trai, gái, cụ không truyền lại cho ai khác mà lại chọn cụ. Mãi sau này cụ Quyết mới biết là không ai nhập tâm được những câu thần chú dài dòng, phức tạp mà cụ Ền truyền lại. Chỉ riêng cụ Quyết - nàng dâu thứ 5 - là khắc cốt ghi tâm những câu thần chú ấy ngay từ lần đầu tiên được dạy. Cụ Ền bảo: “Còn phải do duyên giời nữa con ạ, không phải ai muốn học là cũng học được đâu”. Thế là từ bấy, cụ Quyết nối tiếp công việc của mẹ chồng.
Cụ Quyết cũng có rất nhiều con, thế nhưng mấy năm nay chỉ có cô con gái Đinh Thị Hòa là học được bài thuốc gia truyền đó. Hôm bà Hòa sang thổi thuốc cho cụ Con, chúng tôi cũng có mặt. Bà lên ban thờ, đặt đĩa trầu cau lên thắp nhang rồi lầm rầm khấn khứa. Đĩa trầu ấy, bà bỏ vào cái túi nylon mang sang nhà cụ Con, cầm miếng trầu với đầy đủ cau, trầu, vỏ, vôi trên tay, bà Hòa lại lầm rầm đọc thần chú rồi cho vào miệng nhai. Vừa nhai bà vừa thổi vào chỗ xương đau của cụ Con. Tất cả chỉ mất chưa đầy năm phút.
Bà Hòa thổi trầu vào chỗ xương rạn và xương đau cho cụ Quách Thị Con.
Chẳng ai nói ra bí quyết gia truyền bao giờ, song bà Hòa cũng chia sẻ với chúng tôi rằng, với mỗi loại bệnh về xương, bà lại đọc thần chú để cầu xin một vị thần khác nhau. Khi chúng tôi nêu giả thiết, liệu trầu cau có tác dụng gì trong việc nối liền xương hay không? Bà Hòa cười: “Nó chỉ như là chất dẫn thôi, còn quan trọng nhất vẫn là những câu thần chú và năng lượng của mình dồn vào đó. Mỗi lần niệm chú xong là thấy năng lượng trong người mình vơi đi khá nhiều. Những lúc mà mệt là không thổi được đâu, như mẹ tôi ốm mấy hôm nay không chữa cho ai được”.
Bà Hòa chia sẻ: “Tôi là giáo viên, cũng “duy vật biện chứng” như rất nhiều người. Ngay cả đến lúc này, đang bắt đầu kế thừa bài thuốc bí truyền của gia đình, tôi cũng không hiểu được là xương người bệnh liền được do đâu”. Ngồi bên cạnh “truyền nhân”, cụ Quyết cười móm mém: “Mẹ chồng tôi, ngoài việc truyền lại bài thuốc là những câu thần chú, bà còn dặn rằng trời cho nhà mình cái lộc là bài thuốc đó, nhưng không được lấy cái lộc ấy để lấy tiền của thiên hạ bỏ vào túi mình. Chỉ riêng việc đòi người bệnh phải trả cho mình bao nhiêu tiền thôi cũng đã là thất đức rồi. Mà nếu có làm thế thì cái lộc giời cho cũng chẳng lâu bền được”.
Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013
Hai năm nữa ghép đầu người?
“Điều gì sẽ xảy ra khi một tỉ phú già nua người Trung Quốc sẵn sàng chi tiền để sở hữu một cơ thể mới? Hãy tưởng tượng xem viễn cảnh chúng ta sẽ có một Albert Einstein với cái đầu của nhà bác học được gắn trên một cơ thể mới?”. Bác sĩ giải phẫu thần kinh Ý Sergio Canavero vừa gây chấn động thế giới khi tuyên bố có khả năng thực hiện cấy ghép đầu người trong vòng hai năm tới với chi phí khoảng 13 triệu USD - cái giá mà theo ông “chưa bằng thu nhập hằng năm của một danh thủ bóng đá”.
Tuyên bố của ông càng gây xôn xao khi được đăng trên tạp chí Surgical Neurology International (Giải phẫu thần kinh thế giới) rất nghiêm túc của Mỹ và ông tự tin vào “đột phá khoa học trong ngành y” mà ông sắp thực hiện. Năm 2008, GS Canavero trở nên nổi tiếng khi có thể “làm tỉnh giấc” một phụ nữ bị hôn mê và sống đời sống thực vật suốt hơn hai năm.
Trả lời phỏng vấn của nhật báo Thụy Sĩ Le Matin, GS Canavero khẳng định dự án này hoàn toàn có cơ sở khi “tiếp nối những kết quả khả quan mà GS người Mỹ Robert
J. White đã thành công khi cấy ghép đầu ở khỉ trong thập niên 1970”. Theo đó, giai đoạn khó nhất khi thực hiện cấy ghép đầu ở người chính là “hồi phục tủy sống” nhờ vào việc sử dụng các vật liệu hóa học để khôi phục các dây thần kinh.
Nhu cầu thực tế của dự án này là có thật. “Người nhận (tức người tiếp nhận cơ thể mới) là người bị liệt tứ chi nhưng não vẫn còn hoạt động hoặc bệnh nhân mắc bệnh ung thư nhưng không di căn lên não. Còn bên cho là người bị chết não do chấn thương nhưng các cơ quan khác không bị ảnh hưởng và cơ thể vẫn còn lành lặn” - GS Canavero giải thích thêm rằng người cho lẫn người nhận buộc phải cùng giới tính, vóc dáng và nhóm máu tương xứng.
Tuy vậy, GS Canavero cho biết ca phẫu thuật sẽ rất phức tạp khi phải huy động đội ngũ y tế hơn 100 người. Họ phải phối hợp nhịp nhàng và thao tác phải nhanh. Quy trình cấy ghép được mô tả như sau: hai nhóm bác sĩ phẫu thuật sẽ làm việc song song. Nhóm phụ trách “phần đầu của người nhận” sẽ giữ lạnh đầu để tránh gây thương tổn cho não, các cơ, khí quản, thực quản, mạch máu được tách ra khỏi cổ và trong tư thế sẵn sàng để được cấy ghép. Nhóm kia chuẩn bị “cơ thể của người cho” với các thao tác giống hệt như nhóm đầu.
Ở giai đoạn cấy ghép, các bác sĩ chỉ phải nối các mô thần kinh lại với nhau. Khó nhất là công đoạn cắt phần tủy sống của người cho và người nhận rồi đặt chúng vào đúng vị trí để cơ quan này vẫn tiếp tục hoạt động sau đó.
Nếu ca phẫu thuật thành công, bệnh nhân sẽ cần có thời gian dài để dưỡng bệnh và được điều trị bằng một loại thuốc để tránh làm tổn hại đến cơ quan cấy ghép. Bên cạnh đó, bệnh nhân cũng cần được trị liệu tâm lý khi đón nhận cơ thể mới và học cách vận động bằng các bài tập vật lý trị liệu.
Nhiều câu hỏi đạo đức
Quá trình phẫu thuật được giải thích có vẻ đơn giản nhưng vấn đề y đức gây khá nhiều băn khoăn ở giới y bác sĩ. Người ta vẫn nhớ rằng GS Robert J. White sau khi ghép đầu trên loài khỉ đã buộc phải “gây chết không đau” cho hai con khỉ sau hàng loạt biến chứng. GS Canavero tin rằng thời gian hai năm là đủ để tập hợp được đội ngũ chuyên gia có thể thực hiện cấy ghép và tìm người nhận lẫn người cho.
Nhưng câu hỏi được đặt ra là khung đạo đức và pháp lý cho đột phá khoa học này. GS Canavero cùng một số nhà khoa học đều lo lắng về việc nếu xây dựng không nhanh thì không loại trừ khả năng có kẻ lợi dụng phương pháp cấy ghép này để “tái sinh” bất hợp pháp. Theo đó, GS Canavero yêu cầu “cần phải ban hành cụ thể các quy tắc chung về tính y đức” khi thực hiện phương pháp cấy ghép đầu để quá trình phẫu thuật không rơi vào tay những bác sĩ kém chất lượng hoặc họ làm việc vì một lợi ích khác.
Trả lời trên báo mạng aufeminin.com, bà Sandrine de Montgolfier - chuyên gia về vấn đề y đức - tỏ ra băn khoăn: “Vấn đề hiện nay là chúng ta chỉ nhìn khoa học dưới lăng kính hi vọng. Do vậy những băn khoăn về y đức thường bị tác động bởi lẽ nếu đưa ra những nghi ngại thì bị gán ghép là vật cản cho sự phát triển của xã hội. Theo tôi, điều quan trọng là mỗi cá nhân phải tự vấn về ý nghĩ con người là gì, xã hội là gì và cách thức chung sống với nó là gì. Tôi là nhà khoa học và tôi nghĩ rằng khoa học có thể đưa chúng ta đến những điều tốt đẹp nhưng khoa học không được phép quy định chúng ta phải làm những gì”.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
