Thứ Hai, 31 tháng 8, 2009

Đề xuất nới rộng biên độ tỷ giá

Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCEIF) vừa đưa ra ba đề xuất để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu những tháng cuối năm.

Đó là: Tiếp tục mở rộng biên độ tỉ giá hối đoái giữa VNĐ với USD từ 5% hiện nay lên +/- 6%, hoặc +/- 7%; Đa dạng hóa sử dụng ngoại tệ trên thị trường tránh tình trạng tập trung quá mức vào USD như hiện nay đồng thời cung cấp thêm các khoản tín dụng hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

Mục tiêu xuất khẩu hàng hóa năm nay là tăng trưởng 3%, tức tổng kim ngạch xuất khẩu phải đạt mức 65 tỉ USD. Tuy nhiên, trong một báo cáo được NCEIF đưa ra thì kim ngạch xuất khẩu năm nay có thể chỉ đạt 58,9 tỉ USD đến 61,3 tỉ USD, tức là giảm từ 2,2% đến 6,4% so với năm 2008.

Theo phân tích của NCEIF, trong những năm qua, tỷ trọng xuất khẩu 6 tháng đầu năm của Việt Nam thường chiếm 45% đến 47% tổng kim ngạch xuất đi cả năm, còn tỷ trọng 6 tháng cuối năm thường chiếm 53% đến 55%. Nhưng thực tế, số liệu của Bộ Công thương cho thấy, đã qua 7 tháng nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa mới đạt 32,3 tỉ USD, giảm 13,5% so với cùng kỳ và bằng 50% của kế hoạch 65 tỉ USD cho năm nay.

Theo dự báo, trường hợp lạc quan nhất thì kim ngạch xuất khẩu năm nay cũng chỉ bằng mức xuất khẩu năm ngoái. Trong trường hợp xấu hơn, sẽ tăng trưởng âm 2,2% - 6,4%.

MA LỰC KINH DOANH VÀNG QUA MẠNG

Bài 1: Bỏ 1.000 USD được tài khoản 100 ngàn USD

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2009

Lạm phát, giá vàng: Ép “duyên”

Như đã thành thông lệ, ngay khi giá vàng vừa rục rịch tăng lên, nguyên nhân đầu tiên được nhắc đến là lạm phát. Thực tế có lẽ không hoàn toàn như vậy, dường như giá vàng đang bị “ép duyên” một cách khá khiên cưỡng cùng lạm phát.

Trong khi CPI tháng 7 đã giảm nhẹ so với tháng 6 và đến tháng 8 lại bất ngờ giảm mạnh với mức tăng chỉ là 0,24% so với mức tăng 0,52% của tháng 7 thì chỉ số giá vàng vẫn đều đặn tăng. Giá vàng tháng 8 tăng tới 1,75%.
Đầu tư vàng sẽ trỗi dậy?
Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này đều cho rằng vàng vốn được xem là kênh đầu tư an toàn, chống lại lạm phát và phòng ngừa rủi ro mất giá của tiền tệ. Ngân hàng trung ương toàn cầu có thể in ra một lượng vô hạn tiền giấy nhưng không thể tạo ra được dù chỉ một ounce vàng.
Họ phân tích: từ đầu năm 2009 giá vàng gia tăng cùng với nhiều tín hiệu phục hồi của nền kinh tế và dự báo cho một sự hồi phục sau khủng hoảng. Việc giá vàng gia tăng là một tín hiệu cho thấy nỗi lo lạm phát quay trở lại một khi nền kinh tế phục hồi.
Vì để đối phó với khủng hoảng, các quốc gia thông qua các biện pháp kích cầu đã bơm tiền ồ ạt vào nền kinh tế với khối lượng và mức độ cao nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, làm dấy lên lo ngại rằng lạm phát sẽ tăng tốc. Điều này dẫn đến vàng được lựa chọn là kênh đầu tư an toàn nhằm tránh sự mất giá của tiền tệ.
Các nhà phân tích cho rằng đầu tư vàng trỗi dậy trong năm nay được đánh dấu bằng sự kết hợp giữa mối quan ngại đồng USD yếu đi (thậm chí là lo ngại về diễn biến các đồng ngoại tệ mạnh khác) và sự lo lắng của các nhà đầu tư về vấn đề lạm phát tăng cao trong dài hạn. Nếu những quan ngại này ngày càng rõ ràng thì thị trường sẽ chứng kiến việc đầu tư ồ ạt vào vàng, đặc biệt là đối với những người trong danh mục đầu tư chưa có vàng.
Ngay từ năm 1966, Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Fed cũng đã từng nhận định “không có cách gì bảo vệ tiền tiết kiệm khỏi sự mất giá trị do lạm phát nếu không có chế độ bảo đảm bằng vàng”.
Giá vàng là chỉ số không thể dự báo.
Đối tượng cho hoạt động đầu cơ
Tuy nhiên, gần nửa thế kỷ đã qua đi và điều này không thể tiếp tục được duy trì như một “chân lý”. Chẳng hạn như tại Việt Nam, trong năm 2008, khi lạm phát lên tới trên 20% thì giá vàng lại giảm sâu.
Như trong thời điểm tháng 4 và tháng 5/2008, lạm phát có xu hướng tăng cao trên 11%/tháng, vàng lại quay đầu giảm từ đỉnh giá 19,5 triệu/đồng chỉ (vàng SJC) xuống còn 17,018 triệu đồng/chỉ.
Nhìn lại một cách dài hơi thì ngay từ những năm 2000, lạm phát và giá vàng ở Việt Nam cũng biến động không theo bất kỳ quy luật nào. VD giá vàng đã đạt mức 1 triệu đồng/chỉ vào đầu tháng 12/2005, tăng gấp đôi so với thời điểm cuối năm 2000, trong khi chỉ số giá tích lũy trong giai đoạn này tăng khoảng 30%.
Giá vàng tiếp tục tăng gần gấp đôi tới trên 1,9 triệu đồng/chỉ vào tháng 12/2007, trong khi chỉ số giá tích lũy tăng 16% tương ứng 2005 - 2007.
Theo TS Hoàng Việt Hà, trong vòng 30 năm trở lại đây, giá vàng và lạm phát không còn mối quan hệ cụ thể nào với nhau. Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới cũng vậy.
Giá vàng đã tăng từ 105 USD/ounce năm 1976 lên tới 850 USD/ounce năm 1980 khi chỉ số giá tiêu dùng trong giai đoạn này tăng 28%. Sau năm 1980, giá vàng tụt dốc xuống còn 256 USD/ounce vào năm 2001 thì chỉ số giá lại vẫn tăng lên khoảng gấp đôi trong giai đoạn này.
Gần đây, khi giá vàng tăng từ 256 USD/ounce năm 2001 lên tới 1.011 USD/ounce vào tháng 3/2008 thì chỉ số giá tiêu dùng cũng chỉ tăng tích lũy khoảng 20%. “Những con số trên cho thấy, giá vàng biến động không theo biến động của lạm phát” - ông Hà khẳng định.
Cũng theo TS Hà, vàng đã trở thành một đối tượng cho hoạt động đầu cơ. Chia sẻ thêm về điều này, một TS kinh tế thuộc Thành viên của Hội đồng chính sách tiền tệ tiết lộ: “Giá vàng trong nước có thể lên hay xuống chỉ bằng một cuộc điện thoại từ nước ngoài gọi về của giới đầu cơ, không phải vì lạm phát hay thiểu phát gì! Giá vàng là chỉ số không thể dự báo và cũng không có căn cứ nào đủ tin cậy để có thể đưa ra dự báo"!
Khi đã trở thành đối tượng cho hoạt động đầu cơ thì rõ ràng rủi ro trong đầu tư dài hạn vàng là vô cùng lớn. Lịch sử cũng đã chứng minh điều này.
Giả sử, vào thời điểm tháng 12/1974, khi giá vàng là 195 USD/oune, nhà đầu tư quyết định mua vào thì sẽ bị mất một nửa giá trị vào đầu năm 1977. hay như vào thời điểm từ năm 1996 đến năm 2004, giá vàng giảm từ 400 USD/ounce tháng 1/1996 xuống còn 250 USD/ounce tháng 1/2001 và phải tới tận tháng 1/2004 mới hồi phục mức giá của tháng 1/1996.

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2009

Vàng tiếp tục thể hiện sự yếu kém

Giá vàng trong ngày giao dịch thứ Tư sụt giảm sau khi đồng đô la tăng cao làm hạn chế sức hấp dẫn của đầu tư vàng.
Anh minh hoa

Trên thị trường New York, các hợp đồng vàng đều giảm giá xuống mức 945.8$, thấp hơn 20 cent. Trước đó, vàng đã giảm mạnh xuống tận mức 941.2$.

Chuyên gia của Kitco là Jon Nadler cho rằng điều kiện khiến vàng chưa thể tăng và sideway trong biên độ hiện nay là do yếu tố mùa vụ. Thị trường cần thêm một yếu tố mới để kích thích các nhà tham gia thị trường quay lại và tạo nên sóng lớn.

Trên thị trường tiền tệ, đồng đô la tăng mạnh so với các đồng tiền khác. Đồng đô la tăng tới 0.7% trong chỉ số usd index.

Quỹ lớn SPDR đã bán thêm 4.58 tấn để giảm trữ lượng xuống mức 1061.83 tấn đang nắm giữ. Đây là mức thấp nhất mà họ nắm giữ kể từ 13/3 trở lại đây.

Trên thị trường kinh tế, thông tin cho thấy đơn hàng lâu bền của Mỹ tăng tới 4.9% và đây là lần đầu tiên nó tăng mạnh nhất kể từ 2 năm. Điều này phần nào khích lệ đồng đô la tăng cao đẩy giá vàng giảm xuống.

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2009

Rủi ro tiềm ẩn của USD không hề nhỏ

1.Vai trò dự trữ giá trị tốt của USD là điều "đáng ngờ", những rủi ro của đồng tiền này không nhỏ, Joseph Stiglitz - nhà kinh tế đoạt giải Nobel năm 2001 - cho biết hôm 21/8.

Phát biểu trong cuộc họp báo tại Bangkok (Thái Lan), giáo sư kinh tế trường Đại học Columbia cho rằng, "cần phải có một hệ thống dự trữ toàn cầu mới". Sự hỗ trợ của các nước như Trung Quốc nên đảm bảo cho các cuộc thương thảo về hệ thống dự trữ mới, ông nói thêm.

Mô tả ảnh.
Giáo sư Joseph Stiglitz. (Ảnh: Bloomberg)

Đồng USD đã giảm 12% kể từ hôm 5/3, so với Euro, Yen và 4 ngoại tệ chủ chốt khác. Trung Quốc, nước có lượng ngoại tệ dự trữ lớn nhất thế giới đã cùng với Nga kêu gọi thiết lập một đồng tiền dự trữ quốc tế mới để giảm bớt vai trò thống trị của USD.

Curtis A. Mewbourne, một quan chức thuộc hãng quản lý trái phiếu lớn nhất thế giới Pacific, cũng nhận định, đồng USD sẽ yếu đi do Mỹ bơm hàng đống tiền khổng lồ vào nền kinh tế.

Giáo sư Stiglitz cho rằng, chính sách nới lỏng tài chính của Mỹ và châu Âu có thể dẫn đến tình trạng bong bóng đầu cơ do cơ hội đầu tư bị hạn chế. Ông không tin khả năng Cục Dự trữ liên bang (Mỹ) có thể rút bớt thanh khoản khỏi thị trường khi cần thiết.

Cuối năm 2008, Fed đã hạ lãi suất cơ bản xuống mức thấp nhất từ 0-0,25%. Tại khu vực đồng Euro, ngân hàng trung ương châu Âu cũng đã hạ lãi suất cơ bản xuống mức thấp kỷ lục dưới 1%.

Theo giáo sư Stiglitz, cần có thêm chương trình hành động toàn cầu để giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay. Nhóm 20 quốc gia (G20) đã chậm trễ trong việc giải quyết những vấn đề cơ bản chẳng hạn như tổng cầu yếu. Dự kiến, các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương G20 sẽ họp mặt tại London trong hai ngày 4-5/9 tới.

Số liệu của Bloomberg cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khởi đầu từ sự sụp đổ của thị trường tín dụng thứ cấp ở Mỹ năm 2007, đã khiến các tổ chức tài chính ngân hàng trên thế giới lỗ tới 1,6 nghìn tỷ USD.

Hôm 20/8, Bộ trưởng Tài chính Mỹ, Timothy Geithner, tuyên bố sự hồi phục của Mỹ vẫn đang trong giai đoạn ban đầu, nhờ vào những tín hiệu tốt trên thị trường việc làm và nhà đất.

Tuy nhiên, giáo sư Stiglitz bi quan rằng, cho dù sự tồi tệ nhất của cuộc suy thoái có thể đã qua, nhưng tỷ lệ thất nghiệp trong 1-3 năm tới, vẫn có thể còn tăng cao hơn nữa.

Giáo sư Joseph Sitglitz nhận được giải Nobel năm 2001 cho nghiên cứu về những vấn đề có thể xảy ra trên thị trường khi các bên tham gia không được tiếp cận thông tin ngang nhau.

Ông từng đảm nhiệm chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế dưới thời cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton. Ông cũng là chuyên gia kinh tế trưởng tại Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn từ 1997-2000.

2.

Mỹ thâm hụt ngân sách hơn 1 nghìn tỷ USD

3.

Thêm một dấu hỏi nghi ngờ về tương lai của đồng USD


USD bị thách thức trên vũ đài tài chính quốc tế

Có thể thấy rõ, những câu hỏi nghi ngờ về tương lai của đồng USD đang ngày một nhiều trong quãng thời gian gần đây. Trong đó, nhiều người còn khẳng định rằng, đồng USD đang phải đối mặt với những thách thức trên vũ đài tài chính quốc tế.

Đối thủ tiềm tàng điển hình nhất hiện nay có thể nghĩ tới đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc, nước đã công khai lên tiếng ủng hộ việc tìm một đồng tiền dự trữ mới cho toàn cầu thay cho USD trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ thâm hụt ngày càng lớn.

Không chỉ có Trung Quốc, sự hoài nghi về vai trò của đồng USD trong dự trữ ngoại tệ của thế giới liên tục tăng lên trong thời gian qua. Nhiều ý kiến cho rằng cần có một đồng tiền mới thay thế, chẳng hạn đồng euro hoặc Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).

Chưa bao giờ đồng USD bị tấn công mạnh như hiện nay. Ngay cả Tổng thống Nga Dmitry Medvedev cũng đã tuyên bố rằng thế giới cần có các đồng tiền dự trữ mới bên cạnh đồng USD.

Cũng giống như các đồng tiền khác, số phận của đồng USD phụ thuộc vào cách thức Chính phủ Mỹ kiểm soát cuộc khủng hoảng kinh tế.

Hiện nền kinh tế này đang ở một thế cân bằng mong manh giữa nguy cơ giảm phát do bị đè nặng bởi các khoản vay nợ của chính phủ và nguy cơ lạm phát do các biện pháp kích thích kinh tế níu kéo.

Không ai đoán được tình hình sẽ diễn biến theo hướng nào, nhưng cả hai cách đều không tốt cho đồng USD và cho những ai đang sở hữu tài sản được định giá bằng đồng tiền này.

Nhân dân tệ của Trung Quốc sẽ thay thế đồng USD?

Khả năng đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc sẽ thay thế đồng USD ở vị trí đồng tiền dự trữ của thế giới gần đây rất hay được nhắc đến, làm nóng lên một đề tài đang trở nên căng thẳng trên thị trường thế giới ngày nay.

TIN LIÊN QUAN
Điều thú vị là không chỉ người Trung Quốc mà chính những người Mỹ có uy tín cũng đã phải đề cập tới khả năng Nhân dân tệ thay USD.

Cụ thể, giáo sư kinh tế Nouriel Roubini thuộc Trường Kinh doanh Stern (Đại học New York), đã phân tích rằng, có khả năng đồng tiền của Trung Quốc sẽ thay thế đồng USD ở vị trí đồng tiền dự trữ của thế giới.

Giáo sư kinh tế Nouriel Roubini cho rằng, nước Mỹ đang chịu mức thâm hụt ngân sách và thương mại khổng lồ và phải dựa vào các nhà đầu tư trái phiếu kho bạc Mỹ từ bên ngoài để bù đắp cho sự thiếu hụt này. Tuy nhiên, hiện các nhà đầu tư này đã bắt đầu cảm thấy lo lắng về việc tích trữ thêm tài sản bằng đồng USD. Trong suốt hai thập kỷ qua, nước Mỹ đã chi tiêu nhiều hơn những gì họ làm ra, khiến nợ nước ngoài ra tăng tới mức không bền vững, dẫn tới sự xuống dốc của đồng USD.

Nhân dân tệ của Trung Quốc thay thế đồng USD - một đề tài đang trở nên căng thẳng trên thị trường thế giới ngày nay. Ảnh AFP.

Ông nhận định, thế giới có thể đang bắt đầu bước vào kỷ nguyên của châu Á, thời kỳ mà Trung Quốc và đồng tiền của nước này ngự trị. Trên cơ sở đó, việc đồng USD bị thách thức bởi những đồng tiền khác, đặc biệt là đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc, có thể xảy ra sớm hơn so với dự kiến.

Nếu xảy ra, điều này có thể sẽ gây ra những tác động xấu với nước Mỹ, khi mà khả năng bù đắp cho thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại bằng tiền vay lãi suất thấp sẽ không còn nữa. Giáo sư Roubini khuyến cáo, điều mà người Mỹ cần làm là hạn chế vay mượn và chi tiêu, đồng thời theo đuối sự tăng trưởng không dựa trên những đợt bong bóng tài sản và tín dụng.

Nhận định trên của giáo sư kinh tế Nouriel Roubini hẳn sẽ làm người Trung Quốc hả dạ. Bởi chính họ cũng đang mong muốn và đã đề cập tới khả năng thay thế đồng USD “bằng một đồng tiền khác”.

“Một đồng tiền khác” là gì nếu không phải là đồng Nhân dân tệ? Chính giáo sư Roubini cũng không ngần ngại chỉ ra rằng, chỉ có đồng Nhân dân tệ có khả năng đó bởi đồng Bảng Anh, đồng Yên Nhật và đồng Franc Thụy Sỹ vẫn chỉ là những đồng tiền dự trữ nhỏ, do các quốc gia này không phải là những cường quốc lớn của thế giới còn đồng euro thì chịu áp lực từ những lo ngại về khả năng tồn tại lâu dài của liên minh tiền tệ châu Âu.

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2009

Thế giới sẽ đối mặt với cơn sốc dầu mỏ thứ hai?

Khi kinh tế toàn cầu hồi phục dần khỏi cuộc suy thoái, lại có một rủi ro lớn về nhu cầu dầu trở lại cùng với nguồn cung thắt chặt đẩy giá dầu lên cao. Thực tế, giá dầu đang trên đà tăng giá.

Nghiên cứu của Viện McKinsey Global (MGI) cho thấy trừ khi các nhà lãnh đạo kinh doanh và các nhà chức trách có hành động dứt khoát về cả cung và cầu, sẽ có một cú sốc dầu mỏ thứ hai sau khi kinh tế hồi phục. Quả thưc, điều này có thể kéo dài hơn là lần tăng giá khiến kinh tế thế giới bị ảnh hưởng trong những năm 1970.

Cũng những năm 1970, nhu cầu năng lượng sẽ tăng một khi kinh tế tăng trưởng trở lại. MGI dự đoán nhu cầu sẽ tăng hơn 2% mỗi năm trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2015, tăng gần 1 điểm phần trăm sao với giai đoạn từ 2006 đến 2010. Cùng lúc đó, cung dầu thế giới cũng giảm so với những năm 1970.

Việc cung dầu giảm đột ngột đã dấn tới cú sốc dầu mỏ năm 1970 – do sự cấm vận của OPEC và cung dầu tại Iran giảm mạnh do cách mạng nổ ra tại Iran. Nhưng sau cả hai sự kiện đó, cung dầu tăng mạnh do cả OPEC và các nước không thuộc OPEC đều thu được những khoản lợi lớn từ việc khám phá những mỏ dầu mới.

Nguồn cung khan hiếm

Hiện nay, tín dụng thắt chặt cũng như giá dầu bất ổn đang làm gián đoạn đầu tư vào nguồn cung mới. Ngay cả sau khi tín dụng được nới lỏng, các nhà sản xuất có thể vẫn thận trọng khi đối mặt với những nỗ lực tránh phụ thuộc trên nhiều thị trường như Mỹ đang cố giảm bớt phụ thuộc vào nhập khẩu dầu thô. Điều này càng tăng bất ổn đối với triển vọng nhu cầu dầu.

Trong nhiều trường hợp, ngay cả khi môi trường đầu tư không bị áp lực, nếu các nhà sản xuất muốn tìm cách tăng sản lượng cũng khó hơn so với những năm 1970 do thách thức sản lượng khai thác từ những mỏ dầu cũ và những khó khăn trong việc tìm những mỏ dầu mới có chi phí rẻ.

Một cách để tránh sự mất cân bằng trên thị trường dầu và những khó khăn khi giá dầu tăng đó là giảm nhu cầu. Nhưng điều này cũng rất khó do cơ chế trợ giá năng lượng tại một số nền kinh tế. Trong bối cảnh này, năng lượng thay thế và năng lượng tiết kiệm dần trở nên quan quan trọng.

Giảm cầu

Trong giai đoạn từ nă 2006 đến năm 2020, nhu cầu năng lượng tại những nước phát triển như Mỹ sẽ giảm. Trong khi đó, nhu cầu tại những nước đang phát triển sẽ tăng mạnh và chiếm 90% nhu cầu năng lượng từ này đến năm 2020.

Có nhiều cách thức mà các nhà chức trách có thể đưa ra, ngay cả trong ngắn hạn, để hạ nhu cầu năng lượng cùng với việc đảm bảo nguồn cung.

Nhưng mặc dù một số nước đang phát triển đã có động thái trong việc tiết kiệm năng lương – ví dụ như Trung Quốc – những nỗ lực này vẫn là chưa đủ. Hơn nữa, các nước đang phát triển lại không có khả năng dễ dàng thay đổi sang những nguồn năng lượng thay thế như những nước phát triển.

Tuy nhiên, mọi chính sách nhằm giảm bớt nhu cầu năng lượng sẽ có đóng góp hữu ích – trong ngắn hạn để giảm bớt thiệt hại mà cơn sốc dầu thứ hai có thể gây ra đối với nền kinh tế thế giới. Và trong dài hạn, duy trì được cân bằng cung cầu trên thị trường sẽ góp phần giúp kinh tế thế giới tăng trưởng ổn định.