Giá vàng tăng mạnh trên thị trường thế giới, cộng với quyết định tăng tỷ giá liên tục của Ngân hàng Nhà nước khiến cho không ít DN kinh doanh vàng cho rằng, đang đến một giai đoạn căng thẳng của giá vàng. Với diễn biến này, chính sách bình ổn sẽ gặp nhiều khó khăn.
Khó nói thành công vì tỷ giá
Trong một thông báo gần đây, Ngân hàng Nhà nước thừa nhận, thị trường ngoại hối diễn biến chưa thực sự ổn định, tỷ giá giao dịch có xu hướng tăng. Nguyên nhân là do ảnh hưởng tâm lý trên thị trường vàng đã tác động đến thị trường ngoại hối.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia thì phải nói đúng hơn là do tác động từ thị trường vàng chứ không phải vì yếu tố tâm lý. Vì nếu chỉ do tâm lý, chắc cơ quan quản lý đã không phải liên tiếp tăng tỷ giá trong những ngày qua. Và tỷ giá không chỉ đang chịu sức ép từ vàng mà đang là điểm vướng để có thể khẳng định bình ổn giá vàng thành công hay không.
Tính toán về giá vàng tăng trong ngày 26/10, đại diện Công ty vàng bạc Bảo Tín Minh Châu cho rằng, quy đổi theo tỷ giá USD hiện tại, giá vàng thế giới hiện khoảng 43,22 triệu đồng/lượng. Tính cả thuế và các chi phí khác, giá vàng trong nước vẫn đắt hơn vàng thế giới trên 800.000 đồng/lượng. Tỷ giá mà DN này nhắc đến là tỷ giá giao dịch thực - hiện khoảng 21.800 đồng/USD, cao gần 1.000 đồng so với giá công bố.
Câu chuyện này đã từng lộ ra khi dư luận kháo rằng các DN kinh doanh vàng lãi lớn và khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới còn cao. Tuy nhiên, trong rất nhiều phản pháo từ phía các ngân hàng và SJC, chính đơn vị chủ lực này đã hé ra chuyện họ không thể mua USD theo giá niêm yết mà phải mua USD tương đương với giá tự do. Do vậy, giá vàng chẳng rẻ như tính toán theo giá chính thức công bố và DN không thể có lãi như thế.
Trong khi Ngân hàng Nhà nước liên tục "gào thét" siết chặt kỷ luật, chấn chỉnh thị trường ngoại hối và cho biết chưa phát hiện ra chuyện hai tỷ giá trong ngân hàng thì câu chuyện trên cũng không được xác thực. Thế là, cho đến thời điểm này, bình ổn giá vàng thật khó nói là thành công.
Bởi vì, nếu theo các DN, khoảng cách 800.000 đồng có thể xem là một kết quả rất tích cực, song thừa nhận điều đó chẳng khác nào cơ quan quản lý thừa nhận chuyện hai tỷ giá - hay đúng hơn bất lực trong trị "chợ đen" tỷ giá. Còn nếu cứ bám theo các tỷ giá chính thức thì khó mà nói thành công khi khoảng cách vẫn giữ ở mức trên 2 triệu đồng.
Tuy nhiên, theo nhiều DN kinh doanh vàng, đây chỉ vấn đề nhỏ, bề nổi của câu chuyện. Vấn đề đáng lo hơn chính là áp lực từ vàng đang dồn tỷ giá tăng lên. Khi các nguồn cân đối USD đang tốt lên, nhập siêu giảm mà tỷ giá lại được đẩy căng lên ngoài các yếu tố chu kỳ bình thường thì nhân tố vàng đang được nhấn mạnh.
Đại diện một ngân hàng quốc doanh cho biết, SJC không có nguồn ngoại tệ, các ngân hàng bình ổn vàng cũng không phải là mạnh nhất về nguồn ngoại tệ, trong khi họ lại đang cần một lượng để cân đối vàng trên tài khoản. Vì thế, DN buộc phải đi mua ngoài, nên khi nhu cầu tăng thì giá USD tăng. Đồng tình với điều này, một thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ quốc gia phân tích, bên cạnh các lý do như nhu cầu thanh toán hàng nhập khẩu tăng cao dịp cuối năm, các hợp đồng vay đôla đến hạn trả nợ, thì lý do chủ yếu xuất phát từ vàng.
DN vàng và ngân hàng bán vàng bình ổn sẽ ngay lập tức mua vàng trên tài khoản để cân đối. Việc này cần một lượng tiền để đặt cọc khoảng 10%. Số lượng vàng bán ra đã trên 15 tấn, tức là các ngân hàng và DN cũng phải mua qua tài khoản 15 tấn và đặt cọc số tiền cả trăm triệu USD. Bên cạnh đó, bán được vàng, họ cũng không dại giữ tiền mặt, mà đa số sẽ chuyển qua USD đồng thời chuẩn bị sẵn để khi được cấp phép nhập khẩu vàng vật chất. Nguồn cầu tăng lên, lập tức giá tăng theo.
Đặc biệt, theo chính các DN, khi tỷ giá tăng liên tục, và nhất là giá vàng đảo chiểu tăng mạnh như mấy ngày nay, các DN và ngân hàng này càng phải gom sẵn nhiều USD hơn để thủ thế. Thậm chí, nếu vàng còn tiếp tục tăng giá thì số tiền ký quỹ và tiền chuẩn bị để nhập vàng sẽ ép các đơn vị này vào thế khó, còn các ngân hàng khác có nguồn USD sẽ tranh thủ tăng giá kiếm lợi từ nhưng người được ở trong nhóm "lợi ích vàng".
Tất cả đều sẽ khiến USD thêm căng thẳng, và một khi tỷ giá chịu sức ép lớn từ vàng thì khó mà nói đến thành công của bình ổn, bên cạnh chuyện giá cả chưa thông, lợi ích trong nhón "bình ổn vàng" chưa minh bạch.
Bao giờ phải nhập vàng?
Tối 25/10, nhiều DN đứng ngoài nhóm "bình ổn vàng" lên tiếng kêu ca đòi hỏi sự minh bạch và bình đẳng quyền lợi. Đến sáng 26/10, sau cú đảo chiều tăng giá trên thị trường vàng thế giới, lên 60-70 USD và đà tăng còn tiếp diễn, nhiều người đã tỏ ra "hả hê" khi cho rằng những thuận lợi của bình ổn vàng sẽ không còn được như thời gian qua. Thực tế đã cho thấy, giá vàng trong nước đã tăng phi mã theo giá thế giới, USD cũng theo đó mà tăng lên.
Các nhà kinh doanh vàng cho biết, một lượng vàng lớn bình ổn được bán ra theo giá thấp. Đây là số vàng vay của người gửi. Chuyện đau đầu là, nay giá vàng tăng, họ buộc phải mua vào để trả lại với giá cao hơn. Hơn thế, với một lượng bán ra khá lớn nhưng nhu cầu chưa giảm, cơ hội mua lại vàng trong nước đang xa vời, trong khi giá thế giới đang tăng... Vấn đề đặt ra lúc này là bao giờ sẽ được nhập vàng?
Đến nay, lượng vàng bình ổn bán ra là hơn 15 tấn. Kể cả lúc giá vàng tăng hay giảm, người dân vẫn một chiều mua vào mà không có dấu hiệu bán ra. Số lượng này không quá nhiều so với lượng vàng người dân gửi trong các ngân hàng, nhưng điều đáng nói là vay vàng để bán thì phải mua để trả.
Việc mua để trả theo kịch bản là mua trong nước khi giá xuống nhưng việc này rất khó khi người dân chỉ mua mà ít bán, nhất là khi giá thế giới còn tăng thì dân còn mua vào. Một câu hỏi không được trả lời xuất hiện: Bao nhiêu vàng bán ra sẽ đủ bình ổn? Đây chính là nhân tố "tích trữ và găm giữ" của dân trong nước chưa được tính đủ khi thực hiện chính sách bình ổn. Và đến thời điểm này, khi giá vàng tăng mạnh điều này càng trở thành sức ép lớn.
Dường như các đơn vị bình ổn đang cảm thấy oải vì giá vàng tăng mà cơ hội mua vàng cân đối trong nước vẫn rất thấp. Điều mong chờ nhất chính là được nhập số vàng họ đã cân đối đầu tư qua tài khoản. Tuy nhiên, nếu vàng được nhập, tỷ giá sẽ chịu thêm thêm sức ép và khi sử dụng bài cũ nhập vàng để bán thì không nói là phá sản nhưng gói chính sách bình ổn đã không có nhiều tác dụng. Và có vẻ như, chuyện nhập khẩu sẽ buộc phải thực hiện vì các đơn vị bình ổn sẽ khó chấp nhận chịu rủi ro.
Theo một chuyên gia đến từ Hiệp hội Kinh doanh vàng, đến thời điểm này, sau hơn 20 ngày, có vẻ như mọi việc đang có thêm nhiều rắc rối hơn dự báo khi đưa ra chính sách bình ổn giá. Những ngày trước đây, khi giá vàng bình ổn, các DN trong nước đã không thể hạ giá vàng ngang bằng giá thế giới mà vẫn giữ giá với khoảng cách 2 triệu đồng. Dù họ có nhiều lý giải thì đây vẫn là một khoảng cách mang lại lợi nhuận lớn. Và điều này, đến nay vẫn chưa được minh bạch hóa và "lợi ích" hay "trách nhiệm" vẫn đang là một mối nghi ngờ lớn.
Nhưng bây giờ, khi giá vàng tăng, các đơn vị bình ổn đòi nhập vàng thì mọi chuyện đã có vẻ sáng rõ hơn. Khi họ bắt tay giữ giá thì lý giải là hạ từ từ và dự phòng các rủi ro từ giá thế giới. Nhưng giá tăng họ lập tức tăng rất mạnh và muốn nhập vàng càng sớm càng tốt để bảo vệ lợi ích cho mình trước xu thế vàng tăng giá. Xem ra, đằng nào DN cũng muốn an toàn và thu lợi còn những hậu quả lại dồn vào nhà nước.
15 tấn vàng đã được bán ra với giá cao hơn thế giới, lợi nhuận có thể đã được tính được. Không những thế, với "thẻ bài" bình ổn, chính các đơn vị này đang thực hiện thêm nhiều chiêu thức khác như tăng huy động vàng để bán ra thu lợi, chuyển hóa vàng qua tiền để tăng lợi nhuận... Và nay, nếu vàng được nhập khẩu, các đơn vị này lại có thêm nguồn để tiếp tục quay vòng và thu lợi lớn. Khi nào còn chênh lệch này còn thì các đơn vị bình ổn còn có cơ hội thu lợi từ... trách nhiệm bình ổn thị trường vàng. Trong khi, sức ép lên tỷ giá, giá vàng chênh lệch cao so với thế giới và còn xa với mục tiêu bình ổn... thì chưa thấy ai nói và ai truy trách nhiệm.
Thứ Năm, 27 tháng 10, 2011
Exxon 'tìm thấy dầu ngoài khơi Việt Nam'
Tập đoàn ExxonMobil của Hoa Kỳ loan báo đã tìm thấy dầu khí ở ngoài khơi Việt Nam, gần đường yêu sách chủ quyền chín đoạn của Trung Quốc.
Báo Wall Street Journal (WSJ) trong bản tin gửi từ Houston, Texas, nơi Exxon Mobil đặt đại bản doanh, cho hay hãng này đã tìm thấy dầu sau mũi khoan thứ hai hồi tháng Tám ở ngoài khơi miền Trung Việt Nam.
Mũi khoan đầu tiên đã được thực hiện hồi tháng Tư nhưng không có kết quả.
WSJ dẫn lời một người phát ngôn của Exxon nói hôm thứ Ba 25/10 rằng các thông số thu được từ giếng khoan số hai nằm trong lô 119 ngoài khơi Đà Nẵng đã được chuyển đi phân tích tiếp.
Lô 119 nằm ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam, thuộc vùng biển các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Quảng Nam, rất gần đường chín đoạn mà Trung Quốc lập ra để đòi hỏi chủ quyền Biển Đông. Đường yêu sách này còn được gọi là đường 'lưỡi bò', bao quanh tới 80% diện tích Biển Đông.
Thông tin mới loan ra mang tầm quan trọng đặc biệt, không chỉ trong lĩnh vực dầu khí mà còn trong khía cạnh khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại khu vực.
Nó cũng cho thấy thái độ mạnh bạo của công ty Hoa Kỳ trong việc tiếp tục theo đuổi các dự án làm ăn với Việt Nam cho dù bị áp lực từ Trung Quốc.
Hồi tháng 7/2008, Trung Quốc đã gây sức ép buộc ExxonMobil ngừng dự án với Việt Nam tại khu vực mà Bắc Kinh nói là thuộc chủ quyền Trung Quốc.
Dự án bị Trung Quốc phản đối lúc đó nằm trên thềm lục địa phía Nam, gồm các lô 135 và 136, khu vực Tư Chính - Vũng Mây của bồn trũng Nam Côn Sơn. Exxon lúc đó không tuyên bố rút lui, nhưng sau đó cũng không có thêm thông tin gì về tiến độ dự án.
Trữ lượng dầu khí
WSJ nhận xét rằng nếu lượng dầu khí mà ExxonMobil tìm thấy quả thực có khả năng thương mại, thì đây là tin mừng cho Việt Nam, quốc gia trông chờ nhiều vào thu nhập từ dầu thô.
Tờ báo này nói đa số các mỏ dầu mà Việt Nam đang khai thác đều đã quá lâu năm và khó có thể thỏa mãn nhu cầu năng lượng và xuất khẩu ngày càng tăng.
Việt Nam đang là nước sản xuất dầu thô lớn thứ ba Đông Nam Á.
Tuy nhiên giới phân tích nói cần phải chờ xem trữ lượng tiềm năng của giếng khoan này là bao nhiêu.
WSJ dẫn lời phân tích gia Phil Weiss từ công ty Argus Research nói: "Khó có thể bình luận tầm quan trọng của phát hiện mới này khi chúng ta chưa biết trữ lượng, nhưng chắc chắn đây là tin tốt đối với Exxon vì khu vực khoan dầu được nhiều người cho là giàu tiềm năng".
Nhiều công ty nước ngoài đã tìm thấy dầu tại khu vực này, như Petroliam Nasional Bhd. của Malaysia, Premier Oil Plc. của Anh, Gazprom OAO của Nga và Total SA của Pháp.
Giếng khoan của ExxonMobil ở lô 119, nếu nhìn trên bản đồ trực tuyến mà chính Trung Quốc đưa ra, nằm hoàn toàn trên thềm lục địa của Việt Nam, nhưng cận kề một trong chín đoạn của 'đường lưỡi bò'.
Gần lô 119 là lô 120, mà Công ty thăm dò - khai thác dầu khí Neon Energy của Úc đã cùng đối tác Việt Nam thăm dò địa chấn hồi tháng Năm năm ngoái.
Lúc đó phía Việt Nam đã phải cử tàu hải quân ra hộ tống công việc thăm dò của Neon vì sợ phản ứng của Trung Quốc.
Ngoài lô 119, ExxonMobil còn có dự án thăm dò ở hai lô kế cận là 117 và 118, đều nằm trong vùng thềm lục địa miền Trung Việt Nam.
Tiềm năng dầu khí nếu được chứng thực ở các lô trên thềm lục địa Việt Nam có khả năng sẽ làm tranh chấp chủ quyền tại khu vực thêm gay gắt.
Bằng nhiều cách, Trung Quốc đã gây áp lực buộc nhiều công ty nước ngoài muốn làm ăn với Việt Nam phải rút lui.
Thế nhưng trong khi các hãng dầu như BP của Anh chấp nhận ngừng dự án, thì các công ty Mỹ, được tin là có hậu thuẫn của Washington, giữ thái độ kiên quyết hơn.
Báo Wall Street Journal (WSJ) trong bản tin gửi từ Houston, Texas, nơi Exxon Mobil đặt đại bản doanh, cho hay hãng này đã tìm thấy dầu sau mũi khoan thứ hai hồi tháng Tám ở ngoài khơi miền Trung Việt Nam.
Mũi khoan đầu tiên đã được thực hiện hồi tháng Tư nhưng không có kết quả.
WSJ dẫn lời một người phát ngôn của Exxon nói hôm thứ Ba 25/10 rằng các thông số thu được từ giếng khoan số hai nằm trong lô 119 ngoài khơi Đà Nẵng đã được chuyển đi phân tích tiếp.
Lô 119 nằm ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam, thuộc vùng biển các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Quảng Nam, rất gần đường chín đoạn mà Trung Quốc lập ra để đòi hỏi chủ quyền Biển Đông. Đường yêu sách này còn được gọi là đường 'lưỡi bò', bao quanh tới 80% diện tích Biển Đông.
Thông tin mới loan ra mang tầm quan trọng đặc biệt, không chỉ trong lĩnh vực dầu khí mà còn trong khía cạnh khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại khu vực.
Nó cũng cho thấy thái độ mạnh bạo của công ty Hoa Kỳ trong việc tiếp tục theo đuổi các dự án làm ăn với Việt Nam cho dù bị áp lực từ Trung Quốc.
Hồi tháng 7/2008, Trung Quốc đã gây sức ép buộc ExxonMobil ngừng dự án với Việt Nam tại khu vực mà Bắc Kinh nói là thuộc chủ quyền Trung Quốc.
Dự án bị Trung Quốc phản đối lúc đó nằm trên thềm lục địa phía Nam, gồm các lô 135 và 136, khu vực Tư Chính - Vũng Mây của bồn trũng Nam Côn Sơn. Exxon lúc đó không tuyên bố rút lui, nhưng sau đó cũng không có thêm thông tin gì về tiến độ dự án.
Trữ lượng dầu khí
WSJ nhận xét rằng nếu lượng dầu khí mà ExxonMobil tìm thấy quả thực có khả năng thương mại, thì đây là tin mừng cho Việt Nam, quốc gia trông chờ nhiều vào thu nhập từ dầu thô.
Tờ báo này nói đa số các mỏ dầu mà Việt Nam đang khai thác đều đã quá lâu năm và khó có thể thỏa mãn nhu cầu năng lượng và xuất khẩu ngày càng tăng.
Việt Nam đang là nước sản xuất dầu thô lớn thứ ba Đông Nam Á.
Tuy nhiên giới phân tích nói cần phải chờ xem trữ lượng tiềm năng của giếng khoan này là bao nhiêu.
WSJ dẫn lời phân tích gia Phil Weiss từ công ty Argus Research nói: "Khó có thể bình luận tầm quan trọng của phát hiện mới này khi chúng ta chưa biết trữ lượng, nhưng chắc chắn đây là tin tốt đối với Exxon vì khu vực khoan dầu được nhiều người cho là giàu tiềm năng".
Nhiều công ty nước ngoài đã tìm thấy dầu tại khu vực này, như Petroliam Nasional Bhd. của Malaysia, Premier Oil Plc. của Anh, Gazprom OAO của Nga và Total SA của Pháp.
Giếng khoan của ExxonMobil ở lô 119, nếu nhìn trên bản đồ trực tuyến mà chính Trung Quốc đưa ra, nằm hoàn toàn trên thềm lục địa của Việt Nam, nhưng cận kề một trong chín đoạn của 'đường lưỡi bò'.
Gần lô 119 là lô 120, mà Công ty thăm dò - khai thác dầu khí Neon Energy của Úc đã cùng đối tác Việt Nam thăm dò địa chấn hồi tháng Năm năm ngoái.
Lúc đó phía Việt Nam đã phải cử tàu hải quân ra hộ tống công việc thăm dò của Neon vì sợ phản ứng của Trung Quốc.
Ngoài lô 119, ExxonMobil còn có dự án thăm dò ở hai lô kế cận là 117 và 118, đều nằm trong vùng thềm lục địa miền Trung Việt Nam.
Tiềm năng dầu khí nếu được chứng thực ở các lô trên thềm lục địa Việt Nam có khả năng sẽ làm tranh chấp chủ quyền tại khu vực thêm gay gắt.
Bằng nhiều cách, Trung Quốc đã gây áp lực buộc nhiều công ty nước ngoài muốn làm ăn với Việt Nam phải rút lui.
Thế nhưng trong khi các hãng dầu như BP của Anh chấp nhận ngừng dự án, thì các công ty Mỹ, được tin là có hậu thuẫn của Washington, giữ thái độ kiên quyết hơn.
Jeffrey Nichols: Giá vàng sẽ về mức cao kỷ lục vào cuối năm
Ông là người có 2 dự báo cực kỳ chính xác về xu hướng giá vàng trong năm nay: Mốc 1.700 USD/ounce được chinh phục; và mất 300 USD/ounce từ mức đỉnh.
Jeffrey Nichols, chuyên gia phân tích kim loại quý kiêm giám đốc của American Precious Metals Advisors cho rằng giá vàng, hiện giao dịch quanh 1.700 USD/ounce sau khi rơi xuống đáy 1.540 USD/ounce hồi đầu tháng 10, có thể thiết lập đợt tăng mới và trở về mức kỷ lục trên 1.920 USD/ounce vào cuối năm nay.
Nichols là người có 2 dự báo chính xác về giá vàng mà đến nay thị trường rất trân trọng. Hồi cuối tháng 7, khi giá vàng vừa vượt 1.600 USD/ounce, ông dự báo thị trường có lực để vượt qua mốc 1.700 USD. Và cuối tháng 8, khi giá đạt đỉnh cao 1.900 USD/ounce, ông dự báo thị trường sẽ rớt 300 USD.
Trả lời phỏng vấn báo chí, Nichols cho biết: “Nợ công ở châu Âu sẽ tiếp diễn, là căn nguyên của mọi nỗi sợ hãi và hướng về nhu cầu vàng. Ngoài ra, sự đảo ngược về vị thế đầu tư của nhà đầu cơ trên thị trường phái sinh, cộng với những củng cố của giá trong tháng qua sẽ giúp vàng có lực đi tiếp”.
Nichols cho biết thêm ông không nghi ngờ sự sụt giảm gần đây của vàng là phát sinh từ sức mạnh của đồng USD, nhưng đồng thời nhấn mạnh sự điều chỉnh đó chỉ là tạm thời. “Nhu cầu đầu tư vàng thỏi và chứng chỉ của các quỹ ETF vàng vài ngày gần đây tăng mạnh. Có vẻ như vai trò an toàn và là nơi trú ẩn cuối cùng trong vàng vẫn được chọn, ngay cả khi dòng vốn đổ vào USD vẫn tiếp tục”, ông nói.
Jeff Nichols chỉ ra rằng, trong trường hợp cuộc khủng hoảng nợ của châu Âu tìm được giải pháp, thì sức mạnh của đồng USD sẽ bị xói mòn và các nhà đầu tư châu Âu sẽ vội vàng tìm về kim loại quý.
Mặt khác, nhu cầu vàng vật chất tiếp tục mạnh ở châu Á và người tiêu dùng nơi đây vẫn sẵn sàng mua vàng ở mức giá cao hơn. Mùa cưới, mùa lễ hội và lo ngại lạm phát sẽ chèo lái nhu cầu ở Ấn Độ, trong khi thu nhập cao hơn và sự giàu có cùng áp lực lạm phát tại Trung Quốc sẽ thúc đẩy người dân sở hữu vàng nhiều hơn.
Bạn muốn liên hệ với chúng tôi để được tư vấn xin vui lòng click here
Bạn muốn tham dự khóa học www.forex.edu.vn đăng kí tại đây
Theo Cafef - www.taichinhthegioi.net
Sofia@tpj.com.vn
Tag : Thế giới vàng , the gioi vang , chien luoc vang , chiến lược vàng , nhan dinh vang , nhận định vàng , forex , giao dịch vàng , giao dich vang , học forex ở đâu , hoc forex o dau , khóa học đầu tư , khoa hoc dau tu , học forex , hoc forex , forex là gì , forex la gi , forex việt nam , forex viet nam , vàng thế giới , vang the gioi , học cách giao dịch vàng , hoc cach giao dich vang , khoa hoc dau tu , khóa học đầu tư .
Thế giới vàng , the gioi vang , chiến lược vàng , nhan dinh vang , nhận định vàng ,forex , giao dịch vàng , giao dich vang , học forex ở đâu , hoc forex o dau ,khóa học đầu tư , khoa hoc dau tu , học forex , hoc forex , forex là gì , forex la gi ,forex việt nam , forex viet nam , vàng thế giới , vang the gioi , học cách giao dịch vàng, hoc cach giao dich vang , khoa hoc dau tu , khóa học đầu tư
Jeffrey Nichols, chuyên gia phân tích kim loại quý kiêm giám đốc của American Precious Metals Advisors cho rằng giá vàng, hiện giao dịch quanh 1.700 USD/ounce sau khi rơi xuống đáy 1.540 USD/ounce hồi đầu tháng 10, có thể thiết lập đợt tăng mới và trở về mức kỷ lục trên 1.920 USD/ounce vào cuối năm nay.
Nichols là người có 2 dự báo chính xác về giá vàng mà đến nay thị trường rất trân trọng. Hồi cuối tháng 7, khi giá vàng vừa vượt 1.600 USD/ounce, ông dự báo thị trường có lực để vượt qua mốc 1.700 USD. Và cuối tháng 8, khi giá đạt đỉnh cao 1.900 USD/ounce, ông dự báo thị trường sẽ rớt 300 USD.
Trả lời phỏng vấn báo chí, Nichols cho biết: “Nợ công ở châu Âu sẽ tiếp diễn, là căn nguyên của mọi nỗi sợ hãi và hướng về nhu cầu vàng. Ngoài ra, sự đảo ngược về vị thế đầu tư của nhà đầu cơ trên thị trường phái sinh, cộng với những củng cố của giá trong tháng qua sẽ giúp vàng có lực đi tiếp”.
Nichols cho biết thêm ông không nghi ngờ sự sụt giảm gần đây của vàng là phát sinh từ sức mạnh của đồng USD, nhưng đồng thời nhấn mạnh sự điều chỉnh đó chỉ là tạm thời. “Nhu cầu đầu tư vàng thỏi và chứng chỉ của các quỹ ETF vàng vài ngày gần đây tăng mạnh. Có vẻ như vai trò an toàn và là nơi trú ẩn cuối cùng trong vàng vẫn được chọn, ngay cả khi dòng vốn đổ vào USD vẫn tiếp tục”, ông nói.
Jeff Nichols chỉ ra rằng, trong trường hợp cuộc khủng hoảng nợ của châu Âu tìm được giải pháp, thì sức mạnh của đồng USD sẽ bị xói mòn và các nhà đầu tư châu Âu sẽ vội vàng tìm về kim loại quý.
Mặt khác, nhu cầu vàng vật chất tiếp tục mạnh ở châu Á và người tiêu dùng nơi đây vẫn sẵn sàng mua vàng ở mức giá cao hơn. Mùa cưới, mùa lễ hội và lo ngại lạm phát sẽ chèo lái nhu cầu ở Ấn Độ, trong khi thu nhập cao hơn và sự giàu có cùng áp lực lạm phát tại Trung Quốc sẽ thúc đẩy người dân sở hữu vàng nhiều hơn.
Bạn muốn liên hệ với chúng tôi để được tư vấn xin vui lòng click here
Bạn muốn tham dự khóa học www.forex.edu.vn đăng kí tại đây
Theo Cafef - www.taichinhthegioi.net
Sofia@tpj.com.vn
Tag : Thế giới vàng , the gioi vang , chien luoc vang , chiến lược vàng , nhan dinh vang , nhận định vàng , forex , giao dịch vàng , giao dich vang , học forex ở đâu , hoc forex o dau , khóa học đầu tư , khoa hoc dau tu , học forex , hoc forex , forex là gì , forex la gi , forex việt nam , forex viet nam , vàng thế giới , vang the gioi , học cách giao dịch vàng , hoc cach giao dich vang , khoa hoc dau tu , khóa học đầu tư .
Thế giới vàng , the gioi vang , chiến lược vàng , nhan dinh vang , nhận định vàng ,forex , giao dịch vàng , giao dich vang , học forex ở đâu , hoc forex o dau ,khóa học đầu tư , khoa hoc dau tu , học forex , hoc forex , forex là gì , forex la gi ,forex việt nam , forex viet nam , vàng thế giới , vang the gioi , học cách giao dịch vàng, hoc cach giao dich vang , khoa hoc dau tu , khóa học đầu tư
Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011
TQ không muốn Ấn Độ vào Biển Đông?
Bắc Kinh cảnh cáo các công ty dầu khí nước ngoài không được 'can dự vào cuộc tranh chấp Biển Đông' sau khi có tin trên báo Ấn Độ nêu ra chuyện tập đoàn ONGC Videsh Ltd của Ấn Độ vào khai thác lô 127 và 128 ở Biển Đông.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra phản hồi hôm 15/9 vào lúc Ngoại trưởng Ấn Độ sang thăm Việt Nam và phái đoàn hai bên có hội đàm về quân sự cấp thứ trưởng tại Hà Nội.
Bà Khương Du, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc tại cuộc họp báo thứ Năm ở Bắc Kinh nói bà không rõ về tầm vóc vụ việc mà báo Hindustan Times nêu ra nhưng nhắc lại "chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển tranh chấp".
Theo bản tiếng Anh của các hãng thông tấn trích đăng, bà Khương Du nói: "Quan điểm của chúng tôi luôn nhất quán rằng Trung Quốc phản đối mọi quốc gia khai thác dầu khí tại vùng biển thuộc chủ quyền của mình. Chúng tôi hy vọng các công ty nước ngoài không can dự vào tranh chấp biển Nam Trung Hoa".
Tờ báo Ấn Độ cũng chạy tin mà BBC chưa kiểm chứng được nói rằng chính phủ ở Dehli "bác bỏ phản đối của phía Trung Quốc, cho rằng Bắc Kinh không có cơ sở pháp lý".
Vẫn tờ báo này trích nguồn họ nói là của Bộ Ngoại giao Ấn Độ nói "Việt Nam có chủ quyền tại hai lô 127 và 128, căn cứ vào Luật biển 1982".
Dù một số hãng thông tấn đều chạy lại tin này ngày 15/9, chưa có nguồn chính thức nào từ Việt Nam hoặc Trung Quốc bình luận về chuyện về hoạt động của công ty Bấm ONGC Videsh vốn đã có từ lâu ở Việt Nam.
Tuy BBC chưa kiểm chứng được tin trên báo Ấn Độ, tờ Hindustan Times, nói rằng "Trung Quốc đã gửi lời phản đối chính thức" đến chính phủ Ấn Độ nhưng việc ONGC Videsh Ltd (OVL) khai thác khí tại Nam Côn Sơn không phải là mới.
Trang web của OVL, một tập đoàn nhà nước của Ấn Độ, nói họ đã cùng BP và PetroVietnam khai thác khí tại lô 06.1, bãi Lan Tây từ 2003, theo sau biên bản ghi nhớ ký với phía Việt Nam từ 1999.
Vào tháng 6/2007 có tin BP của Anh rút khỏi dự án khai thác gần Trường Sa vì tranh chấp Trung - Việt về vùng biển này.
Tại lô 128, OVL chiếm 100% cổ phần, với khoản đầu tư 46 triệu USD cho đến hết tháng 3/2011 và trang web của họ nói công ty này dự tính khoan trở lại tại lô 128 vào năm 2012.
Trên bản đồ của OVL, cả bãi Lan Tây và lô 128 nằm xa về phía Nam các mỏ Bạch Hổ và Đại Hùng mà Việt Nam đang khai thác.
Câu chuyện được chú ý trong bối cảnh quan hệ Ấn - Việt đang tiến triển mạnh và căng thẳng tại vùng biển Đông Nam Á chỉ tạm thời lắng xuống sau hai năm đầy biến động.
'Quan hệ nồng thắm'
Tuần này, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ, ông S M Krishna có chuyến thăm Việt Nam bốn ngày, từ 15 đến 17/9.
Ông Krishna và người tương nhiệm Việt Nam, Bộ trưởng Phạm Bình Minh dự kiến sẽ hội đàm về quan hệ kinh tế, an ninh và quân sự tại Hà Nội, theo các báo Ấn Độ.
Ngoài ra, họ cũng bàn về việc chuẩn bị cho Hội nghị Thượng Đỉnh Đông Á vào tháng 11 năm nay với sự tham gia của 18 nước, gồm cả Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc.
Trong vòng những năm qua, Hà Nội và Dehli đã có năm cuộc Đối thoại Quốc phòng Chiến lược và cuộc họp lần thứ sáu đã diễn ra hôm qua 14/9.
Tại Hà Nội hôm thứ Tư, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Tướng Nguyễn Chí Vịnh và Thứ trưởng Ấn Độ Shashi Kant Sharma đồng ý tiếp tục tăng cường hợp tác quốc phòng.
Theo truyền thông nhà nước Việt Nam, hai bên nói đã đạt đồng thuận về một lộ trình, cơ chế và các biện pháp để hợp tác về không quân, hải quân, bộ binh và công nghệ quốc phòng.
Được biết ông Shashi Kant Sharma cũng đã thăm Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam trước khi có lịch thăm tư lệnh không quân và hải quân Việt Nam.
Ngoài tập trận chung, Ấn Độ đã giúp Việt Nam huấn luyện quân sự và cung cấp phụ tùng cho tàu chiến và tên lửa, loại do Nga sản xuất.
Trong thời Chiến Tranh Lạnh, Dehli và Hà Nội có quan hệ nồng thắm qua tình bạn giữa các lãnh đạo hai bên như các thủ tướng Jawaharlal Nehru, Indira Gandhi với các lãnh tụ Hồ Chí Minh và sau là Phạm Văn Đồng của Việt Nam.
Trong thời gian Hoa Kỳ và Trung Quốc lên án Việt Nam đóng quân tại Campuchia, Dehli vẫn ủng hộ Hà Nội bằng hai chuyến thăm cao cấp, của Thủ tướng Rajiv Gandhi, con trai bà Indira Gandhi, vào năm 1985 và 1987.
Sau Chiến tranh Lạnh, khi cả hai nước từ bỏ nền kinh tế kế hoạch kiểu Liên Xô và mở cửa thị trường, mối quan hệ ấm áp bao gồm cả những hợp tác về kinh tế và quân sự được thể hiện qua các chuyến thăm cấp cao.
Thủ tướng Narasimha Rao của Ấn Độ sang thăm Việt Nam hồi năm 1994 và Thủ tướng Vajpayee tới Hà Nội năm 2001.
Giữa các chuyến thăm đó, Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Delhi năm 1999 và hai nước đã ký kết một loạt hiệp định hợp tác trong các lĩnh vực quốc phòng, khoa học và công nghệ cũng như sử dụng năng lượng hạt nhân vì cho mục tiêu dân sự.
Việt Nam cũng luôn ủng hộ việc Ấn Độ muốn có ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an.
Trong chuyến thăm bốn ngày tới Việt Nam trong tuần này Ngoại trưởng Ấn Độ cũng sẽ khai trương Trung tâm Nguồn lực Tiên tiến chuyên về đào tạo công nghệ thông tin mà Ấn Độ giúp lập ra ở Hà Nội.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra phản hồi hôm 15/9 vào lúc Ngoại trưởng Ấn Độ sang thăm Việt Nam và phái đoàn hai bên có hội đàm về quân sự cấp thứ trưởng tại Hà Nội.
Bà Khương Du, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc tại cuộc họp báo thứ Năm ở Bắc Kinh nói bà không rõ về tầm vóc vụ việc mà báo Hindustan Times nêu ra nhưng nhắc lại "chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển tranh chấp".
Theo bản tiếng Anh của các hãng thông tấn trích đăng, bà Khương Du nói: "Quan điểm của chúng tôi luôn nhất quán rằng Trung Quốc phản đối mọi quốc gia khai thác dầu khí tại vùng biển thuộc chủ quyền của mình. Chúng tôi hy vọng các công ty nước ngoài không can dự vào tranh chấp biển Nam Trung Hoa".
Tờ báo Ấn Độ cũng chạy tin mà BBC chưa kiểm chứng được nói rằng chính phủ ở Dehli "bác bỏ phản đối của phía Trung Quốc, cho rằng Bắc Kinh không có cơ sở pháp lý".
Vẫn tờ báo này trích nguồn họ nói là của Bộ Ngoại giao Ấn Độ nói "Việt Nam có chủ quyền tại hai lô 127 và 128, căn cứ vào Luật biển 1982".
Dù một số hãng thông tấn đều chạy lại tin này ngày 15/9, chưa có nguồn chính thức nào từ Việt Nam hoặc Trung Quốc bình luận về chuyện về hoạt động của công ty Bấm ONGC Videsh vốn đã có từ lâu ở Việt Nam.
Tuy BBC chưa kiểm chứng được tin trên báo Ấn Độ, tờ Hindustan Times, nói rằng "Trung Quốc đã gửi lời phản đối chính thức" đến chính phủ Ấn Độ nhưng việc ONGC Videsh Ltd (OVL) khai thác khí tại Nam Côn Sơn không phải là mới.
Trang web của OVL, một tập đoàn nhà nước của Ấn Độ, nói họ đã cùng BP và PetroVietnam khai thác khí tại lô 06.1, bãi Lan Tây từ 2003, theo sau biên bản ghi nhớ ký với phía Việt Nam từ 1999.
Vào tháng 6/2007 có tin BP của Anh rút khỏi dự án khai thác gần Trường Sa vì tranh chấp Trung - Việt về vùng biển này.
Tại lô 128, OVL chiếm 100% cổ phần, với khoản đầu tư 46 triệu USD cho đến hết tháng 3/2011 và trang web của họ nói công ty này dự tính khoan trở lại tại lô 128 vào năm 2012.
Trên bản đồ của OVL, cả bãi Lan Tây và lô 128 nằm xa về phía Nam các mỏ Bạch Hổ và Đại Hùng mà Việt Nam đang khai thác.
Câu chuyện được chú ý trong bối cảnh quan hệ Ấn - Việt đang tiến triển mạnh và căng thẳng tại vùng biển Đông Nam Á chỉ tạm thời lắng xuống sau hai năm đầy biến động.
'Quan hệ nồng thắm'
Tuần này, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ, ông S M Krishna có chuyến thăm Việt Nam bốn ngày, từ 15 đến 17/9.
Ông Krishna và người tương nhiệm Việt Nam, Bộ trưởng Phạm Bình Minh dự kiến sẽ hội đàm về quan hệ kinh tế, an ninh và quân sự tại Hà Nội, theo các báo Ấn Độ.
Ngoài ra, họ cũng bàn về việc chuẩn bị cho Hội nghị Thượng Đỉnh Đông Á vào tháng 11 năm nay với sự tham gia của 18 nước, gồm cả Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc.
Trong vòng những năm qua, Hà Nội và Dehli đã có năm cuộc Đối thoại Quốc phòng Chiến lược và cuộc họp lần thứ sáu đã diễn ra hôm qua 14/9.
Tại Hà Nội hôm thứ Tư, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Tướng Nguyễn Chí Vịnh và Thứ trưởng Ấn Độ Shashi Kant Sharma đồng ý tiếp tục tăng cường hợp tác quốc phòng.
Theo truyền thông nhà nước Việt Nam, hai bên nói đã đạt đồng thuận về một lộ trình, cơ chế và các biện pháp để hợp tác về không quân, hải quân, bộ binh và công nghệ quốc phòng.
Được biết ông Shashi Kant Sharma cũng đã thăm Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam trước khi có lịch thăm tư lệnh không quân và hải quân Việt Nam.
Ngoài tập trận chung, Ấn Độ đã giúp Việt Nam huấn luyện quân sự và cung cấp phụ tùng cho tàu chiến và tên lửa, loại do Nga sản xuất.
Trong thời Chiến Tranh Lạnh, Dehli và Hà Nội có quan hệ nồng thắm qua tình bạn giữa các lãnh đạo hai bên như các thủ tướng Jawaharlal Nehru, Indira Gandhi với các lãnh tụ Hồ Chí Minh và sau là Phạm Văn Đồng của Việt Nam.
Trong thời gian Hoa Kỳ và Trung Quốc lên án Việt Nam đóng quân tại Campuchia, Dehli vẫn ủng hộ Hà Nội bằng hai chuyến thăm cao cấp, của Thủ tướng Rajiv Gandhi, con trai bà Indira Gandhi, vào năm 1985 và 1987.
Sau Chiến tranh Lạnh, khi cả hai nước từ bỏ nền kinh tế kế hoạch kiểu Liên Xô và mở cửa thị trường, mối quan hệ ấm áp bao gồm cả những hợp tác về kinh tế và quân sự được thể hiện qua các chuyến thăm cấp cao.
Thủ tướng Narasimha Rao của Ấn Độ sang thăm Việt Nam hồi năm 1994 và Thủ tướng Vajpayee tới Hà Nội năm 2001.
Giữa các chuyến thăm đó, Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Delhi năm 1999 và hai nước đã ký kết một loạt hiệp định hợp tác trong các lĩnh vực quốc phòng, khoa học và công nghệ cũng như sử dụng năng lượng hạt nhân vì cho mục tiêu dân sự.
Việt Nam cũng luôn ủng hộ việc Ấn Độ muốn có ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an.
Trong chuyến thăm bốn ngày tới Việt Nam trong tuần này Ngoại trưởng Ấn Độ cũng sẽ khai trương Trung tâm Nguồn lực Tiên tiến chuyên về đào tạo công nghệ thông tin mà Ấn Độ giúp lập ra ở Hà Nội.
Khả năng vỡ nợ của Hy Lạp lên tới 98%
Chi phí để đảm bảo 10 triệu USD nợ Hy Lạp bằng hợp đồng hoán đổi tín dụng tăng lên mức kỷ lục 5,8 triệu USD, từ 5,5 triệu USD ngày 9/9.
Khả năng Hy Lạp vỡ nợ trong 5 năm tới lên 98% khi Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou không thuyết phục được giới đầu tư nước ngoài tin rằng quốc gia này có thể vượt qua khủng khoảng nợ khu vực đồng euro.
Theo CMA, hiện giờ chi phí để đảm bảo cho 10 triệu USD nợ Hy Lạp bằng các hợp đồng hoán đổi tín dụng tăng lên mức kỷ lục 5,8 triệu USD thanh toán ngay và 100.000 USD thanh toán theo năm, tăng từ mức 5,5 triệu USD ngày 9/9.
Những hứa hẹn sẽ tuân thủ các mục tiêu thâm hụt, theo điều kiện của gói cứu trợ mà Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), của ông Papandreou đang yếu dần bởi các số liệu cho thấy thâm hụt ngân sách Hy Lạp tăng 22% trong 8 tháng đầu năm nay.
Lợi suất trái phiếu kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp tăng 70%, trong khi thị trường chứng khoán giảm 1/3 trong 7 tuần qua.
Khả năng vỡ nợ của Hy Lạp được dựa theo mô hình giá cơ sở, giả định rằng nhà đầu tư sẽ phục hồi được 40% giá trị trái phiếu nếu Hy Lạp vỡ nợ.
Chính phủ nước này hiện dự báo nền kinh tế sẽ giảm hơn 5% trong năm nay, lớn hơn so với dự báo 3,8% của Ủy ban châu Âu, khi các biện pháp thắt lưng buộc buộc làm tồi tệ hơn suy thoái kéo dài 3 năm qua.
Đồng euro giảm xuống thấp nhất so với đồng yên kể từ năm 2001 do lo ngại về tương lai của khu vực đồng tiền chung châu Âu.
Khả năng Hy Lạp vỡ nợ trong 5 năm tới lên 98% khi Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou không thuyết phục được giới đầu tư nước ngoài tin rằng quốc gia này có thể vượt qua khủng khoảng nợ khu vực đồng euro.
Theo CMA, hiện giờ chi phí để đảm bảo cho 10 triệu USD nợ Hy Lạp bằng các hợp đồng hoán đổi tín dụng tăng lên mức kỷ lục 5,8 triệu USD thanh toán ngay và 100.000 USD thanh toán theo năm, tăng từ mức 5,5 triệu USD ngày 9/9.
Những hứa hẹn sẽ tuân thủ các mục tiêu thâm hụt, theo điều kiện của gói cứu trợ mà Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), của ông Papandreou đang yếu dần bởi các số liệu cho thấy thâm hụt ngân sách Hy Lạp tăng 22% trong 8 tháng đầu năm nay.
Lợi suất trái phiếu kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp tăng 70%, trong khi thị trường chứng khoán giảm 1/3 trong 7 tuần qua.
Khả năng vỡ nợ của Hy Lạp được dựa theo mô hình giá cơ sở, giả định rằng nhà đầu tư sẽ phục hồi được 40% giá trị trái phiếu nếu Hy Lạp vỡ nợ.
Chính phủ nước này hiện dự báo nền kinh tế sẽ giảm hơn 5% trong năm nay, lớn hơn so với dự báo 3,8% của Ủy ban châu Âu, khi các biện pháp thắt lưng buộc buộc làm tồi tệ hơn suy thoái kéo dài 3 năm qua.
Đồng euro giảm xuống thấp nhất so với đồng yên kể từ năm 2001 do lo ngại về tương lai của khu vực đồng tiền chung châu Âu.
Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011
Phương Đông đã mọc lên từ "Ground Zero"
TT - Từ sau vụ tấn công khủng bố 11-9, phương Tây đã mất cả chục năm để tập trung đối phó với mối đe dọa khủng bố cùng hai cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. Và phương Tây cũng đã nhắm mắt trước một sự thay đổi toàn cầu: sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Trên báo Guardian (Anh), nhà phân tích chính trị Timothy Garton Ash cho rằng Trung Quốc là quốc gia được hưởng lợi lớn nhất trong 10 năm qua từ cuộc chiến chống khủng bố mà nước Mỹ tiến hành sau khi bị những tên khủng bố Hồi giáo “điểm huyệt” ngay trái tim mình.
“Vào ngày 11-9-2031, khi nhìn lại 30 năm qua các sử gia sẽ đánh giá 30 năm cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo như thế nào? Chắc chắn trong mắt họ, giai đoạn kéo dài này sẽ được mô tả là bước chuyển giao trọng tâm quyền lực từ phương Tây sang phương Đông, với một Trung Quốc hùng mạnh hơn nhiều và một nước Mỹ kém hùng mạnh hơn, một Ấn Độ mạnh mẽ hơn và một Liên minh châu Âu (EU) suy yếu hơn” - Garton Ash viết.
11-9 mở đầu “thập kỷ vàng”
Theo nghiên cứu “Các chi phí của chiến tranh” do Đại học Brown thực hiện, trong 10 năm qua chi phí kinh tế về dài hạn do các cuộc chiến tranh ở Afghanistan, Iraq, Pakistan và những cuộc can thiệp chống khủng bố khác của Mỹ khoảng 3.200-4.000 tỉ USD. Dự báo con số này có thể tăng lên đến 4.400 tỉ USD vào năm 2020. Giới chuyên gia có thể sẽ còn tranh cãi về con số này, nhưng quả là một con số khổng lồ. Nó gần bằng 1/4 khoản nợ công của Mỹ mà vốn sẽ tiếp tục còn tăng lên và chiếm đến 100% GDP. Đây lẽ ra là một khoản đầu tư khổng lồ cho nguồn nhân lực, cho đào tạo lao động có trình độ cao, cho hạ tầng cơ sở cùng những cải tiến của nước Mỹ thì lại đã bị mất đi.
Trong khi đó, 10 năm qua lại đánh dấu sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc. Theo số liệu của Bộ Thương mại Trung Quốc, năm 2001 GDP của nước này chỉ khoảng 1.160 tỉ USD, nhưng đến năm 2010 đã tăng lên tới 6.040 tỉ USD. Cùng khoảng thời gian này, ngoại thương Trung Quốc đã tăng sáu lần, từ 500 tỉ USD lên 3.000 tỉ USD, dự trữ ngoại hối tăng hơn gấp 10 lần, từ 212 tỉ USD lên 3.200 tỉ USD.
Tốc độ phát triển kinh tế chóng mặt của Trung Quốc đã thu hẹp khoảng cách giữa Bắc Kinh và Washington. Năm 2001, GDP của Trung Quốc chỉ bằng 10% GDP của Mỹ, nhưng đến năm 2010 đã tăng lên ngang bằng 45% GDP của Mỹ. 10 năm trước, Washington đạt thặng dư ngân sách cao, nhưng hiện nay mức thâm hụt tương đương 10% GDP. Trong một thập niên qua, Trung Quốc đã trở thành chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Năm 2001, Bắc Kinh chỉ nắm giữ khoảng 160 tỉ USD trái phiếu Chính phủ Mỹ, nhưng đến nay con số này đã tăng lên đến hơn 1.500 tỉ USD trong tổng nợ công 14.000 tỉ USD của Washington.
Nhà phân tích Lionel Barber của báo Financial Times cho rằng cụm từ quan trọng nhất của thập niên qua không phải là “cuộc chiến chống khủng bố”, mà là “made in China (sản xuất tại Trung Quốc)”. Các sử gia quốc tế nhìn nhận thập niên 2001-2011 là “thập kỷ vàng” của Trung Quốc. Người Trung Quốc có thể nói rằng sự phát triển kinh tế mạnh mẽ là thành quả lao động của họ. Nhưng liệu Trung Quốc có thể thu lợi được nhiều đến như vậy, nếu không có sự kiện 11-9? Trên báo India Express, giáo sư chính trị Minxin Pei thuộc Đại học Claremont McKenna (Mỹ) trả lời là: không. Bởi biến cố 11-9 đã làm thay đổi hoàn toàn các chính sách chiến lược của Mỹ.
“Thời kỳ thuận lợi không kéo dài”
Trước 11-9, chính quyền tổng thống Bush xác định Trung Quốc là “mối đe dọa chiến lược” đối với Mỹ. Nếu không có vụ 11-9, chính quyền Washington sẽ tiếp tục con đường kiềm chế “đối thủ” Trung Quốc. Nhưng sau 11-9, các ưu tiên chiến lược của Mỹ lập tức thay đổi hoàn toàn. Chính quyền Washington dồn mọi nguồn lực vào cuộc chiến chống khủng bố và hai cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq. Chính sách tài khóa mở rộng của chính quyền Bush để hỗ trợ cuộc chiến Iraq và chi phí chiến tranh đã làm nước Mỹ suy yếu nghiêm trọng.
Tuy nhiên, như giáo sư Minxin Pei nhận định, “thời kỳ thuận lợi” của Trung Quốc cũng chỉ kéo dài 10 năm. Đối với Bắc Kinh, các cơ hội chiến lược mà sự kiện 11-9 tạo ra đã dần kết thúc. Một tổng thống Mỹ mới ở Washington đã điều chỉnh chiến lược sai lầm của người tiền nhiệm và tập trung hơn vào khu vực châu Á. Những diễn biến tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã giúp Mỹ điều chỉnh chiến lược ở khu vực này một cách hiệu quả hơn.
“Có một điều chắc chắn là Trung Quốc sẽ rất nhớ môi trường thuận lợi mà sự kiện 11-9 tạo ra và có những đóng góp to lớn vào sự trỗi dậy kinh tế của nước này” - giáo sư Minxin Pei khẳng định.
SƠN HÀ
Trên báo Guardian (Anh), nhà phân tích chính trị Timothy Garton Ash cho rằng Trung Quốc là quốc gia được hưởng lợi lớn nhất trong 10 năm qua từ cuộc chiến chống khủng bố mà nước Mỹ tiến hành sau khi bị những tên khủng bố Hồi giáo “điểm huyệt” ngay trái tim mình.
“Vào ngày 11-9-2031, khi nhìn lại 30 năm qua các sử gia sẽ đánh giá 30 năm cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo như thế nào? Chắc chắn trong mắt họ, giai đoạn kéo dài này sẽ được mô tả là bước chuyển giao trọng tâm quyền lực từ phương Tây sang phương Đông, với một Trung Quốc hùng mạnh hơn nhiều và một nước Mỹ kém hùng mạnh hơn, một Ấn Độ mạnh mẽ hơn và một Liên minh châu Âu (EU) suy yếu hơn” - Garton Ash viết.
11-9 mở đầu “thập kỷ vàng”
Theo nghiên cứu “Các chi phí của chiến tranh” do Đại học Brown thực hiện, trong 10 năm qua chi phí kinh tế về dài hạn do các cuộc chiến tranh ở Afghanistan, Iraq, Pakistan và những cuộc can thiệp chống khủng bố khác của Mỹ khoảng 3.200-4.000 tỉ USD. Dự báo con số này có thể tăng lên đến 4.400 tỉ USD vào năm 2020. Giới chuyên gia có thể sẽ còn tranh cãi về con số này, nhưng quả là một con số khổng lồ. Nó gần bằng 1/4 khoản nợ công của Mỹ mà vốn sẽ tiếp tục còn tăng lên và chiếm đến 100% GDP. Đây lẽ ra là một khoản đầu tư khổng lồ cho nguồn nhân lực, cho đào tạo lao động có trình độ cao, cho hạ tầng cơ sở cùng những cải tiến của nước Mỹ thì lại đã bị mất đi.
Trong khi đó, 10 năm qua lại đánh dấu sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc. Theo số liệu của Bộ Thương mại Trung Quốc, năm 2001 GDP của nước này chỉ khoảng 1.160 tỉ USD, nhưng đến năm 2010 đã tăng lên tới 6.040 tỉ USD. Cùng khoảng thời gian này, ngoại thương Trung Quốc đã tăng sáu lần, từ 500 tỉ USD lên 3.000 tỉ USD, dự trữ ngoại hối tăng hơn gấp 10 lần, từ 212 tỉ USD lên 3.200 tỉ USD.
Tốc độ phát triển kinh tế chóng mặt của Trung Quốc đã thu hẹp khoảng cách giữa Bắc Kinh và Washington. Năm 2001, GDP của Trung Quốc chỉ bằng 10% GDP của Mỹ, nhưng đến năm 2010 đã tăng lên ngang bằng 45% GDP của Mỹ. 10 năm trước, Washington đạt thặng dư ngân sách cao, nhưng hiện nay mức thâm hụt tương đương 10% GDP. Trong một thập niên qua, Trung Quốc đã trở thành chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Năm 2001, Bắc Kinh chỉ nắm giữ khoảng 160 tỉ USD trái phiếu Chính phủ Mỹ, nhưng đến nay con số này đã tăng lên đến hơn 1.500 tỉ USD trong tổng nợ công 14.000 tỉ USD của Washington.
Nhà phân tích Lionel Barber của báo Financial Times cho rằng cụm từ quan trọng nhất của thập niên qua không phải là “cuộc chiến chống khủng bố”, mà là “made in China (sản xuất tại Trung Quốc)”. Các sử gia quốc tế nhìn nhận thập niên 2001-2011 là “thập kỷ vàng” của Trung Quốc. Người Trung Quốc có thể nói rằng sự phát triển kinh tế mạnh mẽ là thành quả lao động của họ. Nhưng liệu Trung Quốc có thể thu lợi được nhiều đến như vậy, nếu không có sự kiện 11-9? Trên báo India Express, giáo sư chính trị Minxin Pei thuộc Đại học Claremont McKenna (Mỹ) trả lời là: không. Bởi biến cố 11-9 đã làm thay đổi hoàn toàn các chính sách chiến lược của Mỹ.
“Thời kỳ thuận lợi không kéo dài”
Trước 11-9, chính quyền tổng thống Bush xác định Trung Quốc là “mối đe dọa chiến lược” đối với Mỹ. Nếu không có vụ 11-9, chính quyền Washington sẽ tiếp tục con đường kiềm chế “đối thủ” Trung Quốc. Nhưng sau 11-9, các ưu tiên chiến lược của Mỹ lập tức thay đổi hoàn toàn. Chính quyền Washington dồn mọi nguồn lực vào cuộc chiến chống khủng bố và hai cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq. Chính sách tài khóa mở rộng của chính quyền Bush để hỗ trợ cuộc chiến Iraq và chi phí chiến tranh đã làm nước Mỹ suy yếu nghiêm trọng.
Tuy nhiên, như giáo sư Minxin Pei nhận định, “thời kỳ thuận lợi” của Trung Quốc cũng chỉ kéo dài 10 năm. Đối với Bắc Kinh, các cơ hội chiến lược mà sự kiện 11-9 tạo ra đã dần kết thúc. Một tổng thống Mỹ mới ở Washington đã điều chỉnh chiến lược sai lầm của người tiền nhiệm và tập trung hơn vào khu vực châu Á. Những diễn biến tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã giúp Mỹ điều chỉnh chiến lược ở khu vực này một cách hiệu quả hơn.
“Có một điều chắc chắn là Trung Quốc sẽ rất nhớ môi trường thuận lợi mà sự kiện 11-9 tạo ra và có những đóng góp to lớn vào sự trỗi dậy kinh tế của nước này” - giáo sư Minxin Pei khẳng định.
SƠN HÀ
Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011
Mỹ ưu tiên phát triển quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam
Tân đại sứ Mỹ David Shear cho biết các ưu tiên cao nhất của ông trong nhiệm kỳ là gia tăng hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ trong lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy tiến trình xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước.
"Chúng ta có mối quan hệ vững mạnh trên nhiều lĩnh vực, quan hệ quốc phòng của chúng ta cũng rất mạnh", tân đại sứ nói và cho biết thêm rằng trong thời gian tới, một phần công việc của ông sẽ là xác định rõ hơn quan hệ đối tác chiến lược sẽ là gì và hai nước muốn gì trong mối quan hệ này, tốc độ tiến triển trong mối quan hệ đó.
"Chúng ta sẽ xem hai nước đi với nhịp độ như thế nào trong mối quan hệ này", ông Shear phát biểu trong buổi họp ra mắt tại Hà Nội hôm nay.
Ồng Shear bình luận rằng những tiến bộ đạt được trong mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam được xây dựng trên cở sở những hiểu biết về quá khứ. Ông cho rằng để xây dựng được một mối quan hệ chiến lược giữa các đối tác, thì điều quan trọng nhất là xây dựng lòng tin.
"Nền tảng cho một mối quan hệ tốt, tích cực và có hiệu quả là lòng tin", Shear nói. "Tôi sẽ làm mọi việc có thể để xây dựng lòng tin với đối tác Việt Nam".
Tháng 10/2010, khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tới thăm Hà Nội, bà đã đề xuất với lãnh đạo Việt Nam về việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược và nhận được sự đồng tình. Kể từ khi thiết lập quan hệ năm 1995, sự hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ đã có những bước tiến triển dài và nhanh chóng. Đặc biệt, mối quan hệ quân sự đã "có cải thiện đáng kể trong hai năm trở lại đây", ông Shear nhận xét.
Năm ngoái khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ khi đó Robert Gates gặp người đồng nhiệm Phùng Quang Thanh của Việt Nam, hai vị bộ trưởng đã nhất trí rằng quan hệ quốc phòng được thực hiện trong các lĩnh vực như an ninh hàng hải, cứu trợ và nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn và một số trao đổi khác.
Ca ngợi sự phát triển trong quan hệ quân sự giữa hai nước, nhưng ông Shear cho biết Mỹ vẫn chưa có chính sách cung cấp vũ khí sát thương cho Việt Nam.
"Hai nước đang ở giai đoạn đầu trong quan hệ quốc phòng", ông Shear nói khi được hỏi về chính sách cung cấp khí tài cho Việt Nam. "Chúng tôi hiện nay bán vũ khí không sát thương và phòng thủ cho Việt Nam trên cơ sở xét từng trường hợp cụ thể".
Nói về các tranh chấp hiện nay trên Biển Đông, tân đại sứ Mỹ nhắc lại quan điểm mà lãnh đạo nước này từng nhiều lần đưa ra, đó là Mỹ ủng hộ tiến trình ngoại giao hòa bình và hợp tác của tất cả các bên có tuyên bố chủ quyền; phản đối sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Ông nhấn mạnh rằng Mỹ chia sẻ lợi ích quốc gia cùng với các nước khác trong việc đảm bảo tự do hàng hải, tôn trọng luật pháp quốc tế và phát triển kinh tế không bị cản trở.
"Mỹ ủng hộ tuyên bố của các bên liên quan về quy tắc ứng xử trên South China Sea (Biển Đông)", ông nói, "và khuyến khích các bên đạt được một bộ quy tắc cụ thể hơn".
Là chuyên gia về Đông Á, tân đại sứ Mỹ nhìn nhận rằng trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc với Mỹ, điều căn bản nhất là làm sao xây dựng được hòa bình và quan hệ tích cực. "Không gì quan trọng hơn hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực. Không gì quan trọng hơn là mối quan hệ tốt giữa các nước với nhau", ông nói.
Về phát triển hợp tác kinh tế song phương, đại sứ Shear khẳng định đây là một trong những ưu tiên quan trọng nhất của ông. Kể từ khi hai nước ký hiệp định thương mại song phương cách đây 10 năm, tổng kim ngạch tăng từ 1,5 tỷ lên 18,6 tỷ USD tính đến năm 2010. Shear cho biết ông sẽ nỗ lực để tăng xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam, phù hợp với chương trình mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu của tổng thống Mỹ trong 5 năm tới.
Một minh chứng cho sự phát triển quan hệ thương mại và đầu tư là sự kiện đoàn gồm 39 công ty trong đó có nhiều công ty lớn thuộc danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới vừa đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội hợp tác.
Ngoài những tiến triển ở nhiều mặt trong mối quan hệ tổng thể, đại sứ Shear cũng đề cập một số bất đồng còn tồn tại. Trong lĩnh vực nhân quyền, tân đại sứ đề cập những điều mà phía Mỹ đánh giá là tiến triển ở Việt Nam như việc chống nạn buôn người qua biên giới, và khẳng định Mỹ sẽ gia tăng đối thoại với đối tác Việt Nam như trong những năm qua.
Ông Shear tiết lộ ông đang học tiếng Việt và đã nhận "lời thách" của chủ tịch Trương Tấn Sang - "người nói tiếng Anh rất tốt", rằng sẽ có thể nói chuyện bằng tiếng Việt vào cuối nhiệm kỳ.
Nói về ấn tượng khi đến Việt Nam lần đầu năm 2007 cùng vợ và con gái, Shear chia sẻ rằng gia đình ông đã rất vui vì sự thân thiện và hiếu khách của người Việt Nam, thích thú các món ăn Việt.
"Chúng tôi đã bị Việt Nam quyến rũ", ông Shear nói.
"Chúng ta có mối quan hệ vững mạnh trên nhiều lĩnh vực, quan hệ quốc phòng của chúng ta cũng rất mạnh", tân đại sứ nói và cho biết thêm rằng trong thời gian tới, một phần công việc của ông sẽ là xác định rõ hơn quan hệ đối tác chiến lược sẽ là gì và hai nước muốn gì trong mối quan hệ này, tốc độ tiến triển trong mối quan hệ đó.
"Chúng ta sẽ xem hai nước đi với nhịp độ như thế nào trong mối quan hệ này", ông Shear phát biểu trong buổi họp ra mắt tại Hà Nội hôm nay.
Ồng Shear bình luận rằng những tiến bộ đạt được trong mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam được xây dựng trên cở sở những hiểu biết về quá khứ. Ông cho rằng để xây dựng được một mối quan hệ chiến lược giữa các đối tác, thì điều quan trọng nhất là xây dựng lòng tin.
"Nền tảng cho một mối quan hệ tốt, tích cực và có hiệu quả là lòng tin", Shear nói. "Tôi sẽ làm mọi việc có thể để xây dựng lòng tin với đối tác Việt Nam".
Tháng 10/2010, khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tới thăm Hà Nội, bà đã đề xuất với lãnh đạo Việt Nam về việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược và nhận được sự đồng tình. Kể từ khi thiết lập quan hệ năm 1995, sự hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ đã có những bước tiến triển dài và nhanh chóng. Đặc biệt, mối quan hệ quân sự đã "có cải thiện đáng kể trong hai năm trở lại đây", ông Shear nhận xét.
Năm ngoái khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ khi đó Robert Gates gặp người đồng nhiệm Phùng Quang Thanh của Việt Nam, hai vị bộ trưởng đã nhất trí rằng quan hệ quốc phòng được thực hiện trong các lĩnh vực như an ninh hàng hải, cứu trợ và nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn và một số trao đổi khác.
Ca ngợi sự phát triển trong quan hệ quân sự giữa hai nước, nhưng ông Shear cho biết Mỹ vẫn chưa có chính sách cung cấp vũ khí sát thương cho Việt Nam.
"Hai nước đang ở giai đoạn đầu trong quan hệ quốc phòng", ông Shear nói khi được hỏi về chính sách cung cấp khí tài cho Việt Nam. "Chúng tôi hiện nay bán vũ khí không sát thương và phòng thủ cho Việt Nam trên cơ sở xét từng trường hợp cụ thể".
Nói về các tranh chấp hiện nay trên Biển Đông, tân đại sứ Mỹ nhắc lại quan điểm mà lãnh đạo nước này từng nhiều lần đưa ra, đó là Mỹ ủng hộ tiến trình ngoại giao hòa bình và hợp tác của tất cả các bên có tuyên bố chủ quyền; phản đối sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Ông nhấn mạnh rằng Mỹ chia sẻ lợi ích quốc gia cùng với các nước khác trong việc đảm bảo tự do hàng hải, tôn trọng luật pháp quốc tế và phát triển kinh tế không bị cản trở.
"Mỹ ủng hộ tuyên bố của các bên liên quan về quy tắc ứng xử trên South China Sea (Biển Đông)", ông nói, "và khuyến khích các bên đạt được một bộ quy tắc cụ thể hơn".
Là chuyên gia về Đông Á, tân đại sứ Mỹ nhìn nhận rằng trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc với Mỹ, điều căn bản nhất là làm sao xây dựng được hòa bình và quan hệ tích cực. "Không gì quan trọng hơn hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực. Không gì quan trọng hơn là mối quan hệ tốt giữa các nước với nhau", ông nói.
Về phát triển hợp tác kinh tế song phương, đại sứ Shear khẳng định đây là một trong những ưu tiên quan trọng nhất của ông. Kể từ khi hai nước ký hiệp định thương mại song phương cách đây 10 năm, tổng kim ngạch tăng từ 1,5 tỷ lên 18,6 tỷ USD tính đến năm 2010. Shear cho biết ông sẽ nỗ lực để tăng xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam, phù hợp với chương trình mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu của tổng thống Mỹ trong 5 năm tới.
Một minh chứng cho sự phát triển quan hệ thương mại và đầu tư là sự kiện đoàn gồm 39 công ty trong đó có nhiều công ty lớn thuộc danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới vừa đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội hợp tác.
Ngoài những tiến triển ở nhiều mặt trong mối quan hệ tổng thể, đại sứ Shear cũng đề cập một số bất đồng còn tồn tại. Trong lĩnh vực nhân quyền, tân đại sứ đề cập những điều mà phía Mỹ đánh giá là tiến triển ở Việt Nam như việc chống nạn buôn người qua biên giới, và khẳng định Mỹ sẽ gia tăng đối thoại với đối tác Việt Nam như trong những năm qua.
Ông Shear tiết lộ ông đang học tiếng Việt và đã nhận "lời thách" của chủ tịch Trương Tấn Sang - "người nói tiếng Anh rất tốt", rằng sẽ có thể nói chuyện bằng tiếng Việt vào cuối nhiệm kỳ.
Nói về ấn tượng khi đến Việt Nam lần đầu năm 2007 cùng vợ và con gái, Shear chia sẻ rằng gia đình ông đã rất vui vì sự thân thiện và hiếu khách của người Việt Nam, thích thú các món ăn Việt.
"Chúng tôi đã bị Việt Nam quyến rũ", ông Shear nói.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
