Họ được gọi là các “đại gia” chứng khoán hay "cá mập" chứng khoán. Họ được cho là khởi nguồn của những "con sóng lớn" trên TTCK, thao túng giá của nhiều loại cổ phiếu... Vậy thực tế "cá mập"chứng khoán chơi cổ phiếu và thao túng giá cổ phiếu ra sao?
Làm "xiếc" với "ông lớn" SSI
Theo điều tra của PV Thanh Niên, trong giới đầu tư tại Hà Nội đã hình thành những "đội đại gia" gồm toàn các nhà đầu tư "cá mập" mở tài khoản tại nhiều công ty chứng khoán khác nhau. Khi dự định làm giá một loại cổ phiếu nào đó, từng "đội đại gia" hợp sức các thành viên cùng đẩy giá lên hoặc đánh xuống với nguồn lực tài chính của cả đội lên tới cả nghìn tỉ đồng (gồm cả đòn bẩy tài chính do công ty chứng khoán cung cấp). Với sức mạnh tài chính cỡ này, họ có thể "làm xiếc" giá bất cứ cổ phiếu nào.
"Phi vụ" làm giá cổ phiếu SSI của CTCP chứng khoán Sài Gòn là một điển hình. Khoảng tháng giữa tháng 3.2009, nhà đầu tư tên T. (tại Hà Nội) và một nhóm nhà đầu tư đại gia khác cùng "lập đội" để đẩy giá SSI. Đây là chuyện rất ít khi xảy ra trước đây bởi SSI là một cổ phiếu có tính đại chúng cao, lượng cổ phiếu lớn nên khả năng thao túng giá là cực khó. Tuy nhiên, trong lần này, T. cùng "đội đại gia" của mình đã thực hiện một cú đẩy giá cũng như thao túng cực kỳ ngoạn mục. Cụ thể, T. và "đội đại gia" mở nhiều tài khoản tại các công ty chứng khoán khác nhau. Nếu muốn mua, ngay từ đầu phiên, họ đặt bán sàn với khối lượng lên tới cả trăm nghìn cổ phiếu để kích lệnh bán từ các nhà đầu tư khác. Khi lệnh bán sàn đổ hàng loạt thì từ một tài khoản khác, các nhà đầu tư này lại mua vào. Tình trạng ngược lại xảy ra đối với mục đích muốn bán. Khi kết hợp với nhiều nhà đầu tư khác (giới đầu tư gọi là "đánh hội đồng"), lực mua và bán của các đại gia như T. lên tới con số cả nghìn tỉ đồng và có khả năng thao túng giá trong một vài phiên nếu thị trường đang ở tình trạng tốt.
Với cách này, SSI tăng giá một cách chóng mặt hàng chục phiên liên tục. Giá của SSI tăng một mạch từ 21.000 đồng/cổ phiếu vào giữa tháng 3.2009 lên 76.000 đồng/cổ phiếu vào đầu tháng 6.2009 và sau này đạt mức đỉnh là 108.000 đồng/cổ phiếu. Cũng kể từ sự kiện "làm xiếc" thành công với một "blue-chip" danh tiếng là SSI, rất nhiều nhà đầu tư cũng như dân môi giới có một cái nhìn hoàn toàn khác về tiềm lực cũng như khả năng của giới đại gia chứng khoán cá nhân trong nước. Theo điều tra của PV Thanh Niên, ngoài trường hợp thành công đặc biệt khi đẩy giá SSI, nhiều trường hợp, cổ phiếu VIC của Công ty Vincom cũng bị các đại gia chứng khoán thao túng giá theo cách làm tương tự.
"Nuốt chửng" cổ phiếu nhỏ, cổ phiếu mới
Không chỉ các cổ phiếu lớn, các cổ phiếu nhỏ, cổ phiếu mới lên sàn cũng được giới “cá mập” chứng khoán "phù phép" giá theo ý đồ của mình. Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, hầu hết các mã cổ phiếu họ Sông Đà đều bị các đại gia chứng khoán làm giá. Các mã như SD2 (tăng một mạch từ 19.000 lên 73.500 đồng/cổ phiếu); SDD (tăng từ 11.000 lên 38.400 đồng/cổ phiếu); S99 (tăng từ 38.000 lên 79.000 đồng/cổ phiếu)... Ngoài cổ phiếu "họ" Sông Đà, một số mã cổ phiếu khác có vốn điều lệ nhỏ cũng bị các đại gia làm giá rất mạnh mà một trong những trường hợp điển hình là CTM của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và khai thác mỏ Vinavico (giá tăng từ 12.000 lên 89.600 đồng/cổ phiếu). Tương tự là cổ phiếu mới lên sàn EFI của CTCP đầu tư tài chính giáo dục, giá lên sàn là 15.000 đồng/CP tăng một mạch lên 45.900 đồng/cổ phiếu.
Một “cá mập” trong giới đại gia chứng khoán cho biết, khi thực hiện làm giá các cổ phiếu này, các đại gia chứng khoán phải phân tích rất rõ cơ cấu sở hữu của các công ty mới niêm yết. Thứ nhất, vốn điều lệ của các công ty này chủ yếu là dưới 50 tỉ đồng. Thứ hai, trong cơ cấu sở hữu của công ty thì hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát... - những người không được bán trong vòng 6 tháng kể từ khi niêm yết, phải chiếm khoảng hơn 50% tổng số cổ phiếu niêm yết. Thứ ba, công ty có những yếu tố có thể tung ra các tin đồn hoặc cụm thông tin giúp đẩy giá được. Đây là lý do các đại gia thường chọn các cổ phiếu bất động sản để thực hiện làm giá.
Trao đổi với PV Thanh Niên, một môi giới chuyên phục vụ khách VIP của một công ty chứng khoán ở Hà Nội tiết lộ: "Với việc những cổ đông không được bán chiếm tới hơn 50%, thì số cổ phiếu đang lưu hành thực tế trên thị trường chỉ khoảng 20-30%. Lý do là những người thân, người quen của hội đồng quản trị các công ty này thường đứng tên sở hữu khoảng hơn 20% tổng số lượng cổ phiếu. Chính vì thế, chỉ cần thâu tóm khoảng 1-2 triệu cổ phiếu (tùy từng công ty) là có thể thao túng tùy thích giá của loại cổ phiếu đó".
Do các "đội đại gia" này "làm giá" khá thành công với nhiều mã cổ phiếu trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 7.2009 nên thời gian sau đó, việc "làm giá" trở nên dễ dàng hơn. Chủ tịch HĐQT của một công ty chứng khoán tại Hà Nội tiết lộ: "Trước đây, nhiều nhà đầu tư trong nước "đánh" chứng khoán theo nhà đầu tư nước ngoài. Giờ thì tình hình đã thay đổi, rất nhiều nhà đầu tư trong nước chuyển hướng "đánh" chứng khoán ăn theo đại gia nội địa".
Hoàng Ly
Thứ Hai, 30 tháng 11, 2009
Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2009
Nhu cầu vàng của Trung Quốc sẽ đạt kỷ lục
Trung Quốc có thể đạt mức sản lượng và tiêu thụ vàng kỷ lục trong năm nay do giá vàng tăng mạnh và các nhà khai thác mở rộng sản xuất, Hiệp hội Vàng Trung Quốc cho biết ngày 29/11.
Nhu cầu vàng năm 2009 của Trung Quốc có thể lên hơn 450 tấn, so với 395,6 tấn năm 2008, trong khi sản lượng sẽ đạt 310 tấn, tăng 28 tấn, Trương Vĩnh Đào, Phó Tổng thư ký Hiệp hội, phát biểu tại Côn Minh (Vân Nam).
Tỷ lệ tăng trưởng sản lượng vàng hàng năm của Trung Quốc trong vòng 8 năm qua ở mức 9,5%, ông Trương cho biết thêm.
Giá vàng đã liên tiếp phá kỷ lục. (Ảnh: Reuters)
Năm 2007, Trung Quốc đã vượt qua Nam Phi, trở thành nước sản xuất vàng lớn nhất thế giới. Hồi tháng 7 năm nay, Hội đồng vàng thế giới (WGC) dự báo Trung Quốc có thể vượt Ấn Độ trở thành nước tiêu thụ vàng lớn nhất toàn cầu.
Giám đốc đầu tư, nghiên cứu và marketing của WGC, ông Marcus Grubb, phát biểu tại Hồng Kông hôm 24/7 cho hay, nhu cầu vàng của Trung Quốc đang tăng và sẽ còn tiếp tục tăng, trong khi lượng tiêu thụ tại Ấn Độ - nước đang nắm giữ vị trí tiêu thụ nhiều vàng nhất thế giới - diễn biến theo chiều hướng giảm.
Số liệu công bố hồi tháng 5 của WGC cho thấy, trong quý 1/2009, tổng nhu cầu vàng của Ấn Độ đã giảm 83%, còn 17,7 tấn, từ mức 107,2 tấn cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, nhu cầu vàng của Trung Quốc tăng 1,8% lên mức 105,2 tấn, từ mức 103,3 tấn.
“Mối lo lạm phát đã khiến nhu cầu đầu tư vào các loại tài sản như bất động sản, ôtô và vàng của người tiêu dùng Trung Quốc tăng mạnh”, Chu Thế Kiệm, Giáo sư đại học Thanh Hoa, phát biểu tại Côn Minh hôm 29/11.
Ngoài ra, việc “giá tăng kỷ lục đã nâng cao lợi nhuận của các nhà khai khoáng Trung Quốc, khuyến khích họ mở rộng sản xuất”, ông Trương cho biết. Giá cổ phiếu của các công ty khai khoáng Trung Quốc đã tăng mạnh trong năm nay.
Từ đầu năm tới nay, giá vàng thế giới đã tăng 34% và hướng tới năm tăng giá thứ 9, do các ngân hàng trung ương, quỹ trợ cấp và nhà đầu tư cá nhân chuyển sang mua vàng để đối phó với tình trạng mất giá của đồng bạc xanh và nguy cơ lạm phát.
Tuy nhiên, giá vàng còn có thể lên tới 1.500 USD/ounce nếu đôla Mỹ tiếp tục suy yếu do lãi suất cơ bản ở mức thấp, Kenneth Tropin, Chủ tịch hãng quản lý vốn Graham, phát biểu trên tạp chí Barron số ra ngày 30/11.
Giá vàng đã nhận được sự hỗ trợ từ việc Quỹ Tiền tệ Quốc tế bán vàng dự trữ cho các ngân hàng trung ương như Sri Lanka, Ấn Độ, Mauritius. Trung Quốc cũng "có khả năng" trở thành nhà mua vàng trong vài tuần tới, Ben Westmore, một nhà phân tích thuộc ngân hàng National Australia, nhận định.
*
Việt Hà (theo Bloomberg)
Nhu cầu vàng năm 2009 của Trung Quốc có thể lên hơn 450 tấn, so với 395,6 tấn năm 2008, trong khi sản lượng sẽ đạt 310 tấn, tăng 28 tấn, Trương Vĩnh Đào, Phó Tổng thư ký Hiệp hội, phát biểu tại Côn Minh (Vân Nam).
Tỷ lệ tăng trưởng sản lượng vàng hàng năm của Trung Quốc trong vòng 8 năm qua ở mức 9,5%, ông Trương cho biết thêm.
Giá vàng đã liên tiếp phá kỷ lục. (Ảnh: Reuters)
Năm 2007, Trung Quốc đã vượt qua Nam Phi, trở thành nước sản xuất vàng lớn nhất thế giới. Hồi tháng 7 năm nay, Hội đồng vàng thế giới (WGC) dự báo Trung Quốc có thể vượt Ấn Độ trở thành nước tiêu thụ vàng lớn nhất toàn cầu.
Giám đốc đầu tư, nghiên cứu và marketing của WGC, ông Marcus Grubb, phát biểu tại Hồng Kông hôm 24/7 cho hay, nhu cầu vàng của Trung Quốc đang tăng và sẽ còn tiếp tục tăng, trong khi lượng tiêu thụ tại Ấn Độ - nước đang nắm giữ vị trí tiêu thụ nhiều vàng nhất thế giới - diễn biến theo chiều hướng giảm.
Số liệu công bố hồi tháng 5 của WGC cho thấy, trong quý 1/2009, tổng nhu cầu vàng của Ấn Độ đã giảm 83%, còn 17,7 tấn, từ mức 107,2 tấn cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, nhu cầu vàng của Trung Quốc tăng 1,8% lên mức 105,2 tấn, từ mức 103,3 tấn.
“Mối lo lạm phát đã khiến nhu cầu đầu tư vào các loại tài sản như bất động sản, ôtô và vàng của người tiêu dùng Trung Quốc tăng mạnh”, Chu Thế Kiệm, Giáo sư đại học Thanh Hoa, phát biểu tại Côn Minh hôm 29/11.
Ngoài ra, việc “giá tăng kỷ lục đã nâng cao lợi nhuận của các nhà khai khoáng Trung Quốc, khuyến khích họ mở rộng sản xuất”, ông Trương cho biết. Giá cổ phiếu của các công ty khai khoáng Trung Quốc đã tăng mạnh trong năm nay.
Từ đầu năm tới nay, giá vàng thế giới đã tăng 34% và hướng tới năm tăng giá thứ 9, do các ngân hàng trung ương, quỹ trợ cấp và nhà đầu tư cá nhân chuyển sang mua vàng để đối phó với tình trạng mất giá của đồng bạc xanh và nguy cơ lạm phát.
Tuy nhiên, giá vàng còn có thể lên tới 1.500 USD/ounce nếu đôla Mỹ tiếp tục suy yếu do lãi suất cơ bản ở mức thấp, Kenneth Tropin, Chủ tịch hãng quản lý vốn Graham, phát biểu trên tạp chí Barron số ra ngày 30/11.
Giá vàng đã nhận được sự hỗ trợ từ việc Quỹ Tiền tệ Quốc tế bán vàng dự trữ cho các ngân hàng trung ương như Sri Lanka, Ấn Độ, Mauritius. Trung Quốc cũng "có khả năng" trở thành nhà mua vàng trong vài tuần tới, Ben Westmore, một nhà phân tích thuộc ngân hàng National Australia, nhận định.
*
Việt Hà (theo Bloomberg)
Hiệu ứng Dubai đối với gold
1. Dubai làm đảo lộn thị trường vàng
Giá vàng hôm nay có một cú giảm mạnh sau khi hiệu ứng Dubai lan toả sang thị trường chứng khoán và hàng hoá làm chúng sụt giảm. Đồng đô la đã tăng giá so với các đồng tiền khác khiến giá vàng hạ mạnh hơn 60$ chỉ trong một buổi sáng.
2. Sự sụt giảm kinh hoàng của giá vàng song xu hướng tăng vẫn còn đó
Cơ quan đúc tiền của Mỹ đã tạm ngưng việc bán các đồng tiền vàng Eagle ra, do nguồn dự trữ đã cạn kiệt, nhưng đồng thời cũng nói rằng sẽ phục hồi lại khoảng trống trong kho dự trữ đồng tiền vàng này để đáp ứng nhu cầu. Doanh số bán đồng tiền vàng Eagle tại Mỹ đã nhảy lên 1.07 triệu ounce vàng trong năm nay tính cho đến tháng 10, từ mức 568,000 so với một năm trước đây.
Philip Newman, giám đốc tại hãng tư vấn kim loại quý GFMS có trụ sở đặt tại Luân Đôn cho rằng nhu cầu vàng vật chất tại Bắt Mỹ đã tăng lên trong 2 tháng qua.
Gijsbert Groenewegen, giám đốc quản lý tại quỹ đầu cơ kim loại quý Silver Arrow Capital có trụ sở đặt tại New York, cho rằng các nhà đầu tư đang rất muốn nhanh chóng đổi các tài sản tài chính sang các tài sản vật chất. Vàng là tài sản duy nhất mà không có rủi ro đối tác”.
Suki Cooper, chuyên gia phân tích tại Barclays Capital, đã lưu ý rằng lượng nắm giữ của các quỹ đầu cơ vàng đã đạt đến mức kỷ lục tại 1,765.9 tấn, tăng 47.8% trong năm nay.
Cooper cho biết: “Chúng ta đang chứng kiến dòng tiền tiếp tục chảy vào các quỹ đầu cơ kể từ tháng 8, và sự tích lũy đều đặn của các nhà đầu tư. Những nhà đầu tư ưa thích rủi ro dường như vẫn đang rất lạc quan, thậm chí với việc giá đang thử thách tại mức cao 1,200 USD/ounce”.
Francisco Blanch, trưởng bộ phận nghiên cứu hàng hóa toàn cầu tại BofA-Merril Lynch, cho rằng khi các ngân hàng trung ương tại các thị trường mới nổi tăng lượng vàng nắm giữ lên, điều này có thể đẩy giá lên trên 1,500 USD/ounce, giá dầu sẽ theo sau và có thể phá vỡ mốc 100 USD/thùng vào cuối năm 2010, hoặc đầu năm 2011.
3. Dubai sẽ đặt một dấu chấm kết thúc cho sự hồi phục giá của thị trường vàng?
Trong một bản lưu ý gửi cho các nhà đầu tư, ngân hàng Deutsche Bank đã viết: “Chúng tôi tin rằng những sự kiện tại Dubai đang chính là tâm điểm của các thị trường vào lúc này, khi mà những rủi ro về tín dụng này có nguy cơ kéo dài đến năm 2010, và điều đó có thể tạo cơ hội cho đồng USD phục hồi trở lại”.
Giá vàng hôm nay có một cú giảm mạnh sau khi hiệu ứng Dubai lan toả sang thị trường chứng khoán và hàng hoá làm chúng sụt giảm. Đồng đô la đã tăng giá so với các đồng tiền khác khiến giá vàng hạ mạnh hơn 60$ chỉ trong một buổi sáng.
2. Sự sụt giảm kinh hoàng của giá vàng song xu hướng tăng vẫn còn đó
Cơ quan đúc tiền của Mỹ đã tạm ngưng việc bán các đồng tiền vàng Eagle ra, do nguồn dự trữ đã cạn kiệt, nhưng đồng thời cũng nói rằng sẽ phục hồi lại khoảng trống trong kho dự trữ đồng tiền vàng này để đáp ứng nhu cầu. Doanh số bán đồng tiền vàng Eagle tại Mỹ đã nhảy lên 1.07 triệu ounce vàng trong năm nay tính cho đến tháng 10, từ mức 568,000 so với một năm trước đây.
Philip Newman, giám đốc tại hãng tư vấn kim loại quý GFMS có trụ sở đặt tại Luân Đôn cho rằng nhu cầu vàng vật chất tại Bắt Mỹ đã tăng lên trong 2 tháng qua.
Gijsbert Groenewegen, giám đốc quản lý tại quỹ đầu cơ kim loại quý Silver Arrow Capital có trụ sở đặt tại New York, cho rằng các nhà đầu tư đang rất muốn nhanh chóng đổi các tài sản tài chính sang các tài sản vật chất. Vàng là tài sản duy nhất mà không có rủi ro đối tác”.
Suki Cooper, chuyên gia phân tích tại Barclays Capital, đã lưu ý rằng lượng nắm giữ của các quỹ đầu cơ vàng đã đạt đến mức kỷ lục tại 1,765.9 tấn, tăng 47.8% trong năm nay.
Cooper cho biết: “Chúng ta đang chứng kiến dòng tiền tiếp tục chảy vào các quỹ đầu cơ kể từ tháng 8, và sự tích lũy đều đặn của các nhà đầu tư. Những nhà đầu tư ưa thích rủi ro dường như vẫn đang rất lạc quan, thậm chí với việc giá đang thử thách tại mức cao 1,200 USD/ounce”.
Francisco Blanch, trưởng bộ phận nghiên cứu hàng hóa toàn cầu tại BofA-Merril Lynch, cho rằng khi các ngân hàng trung ương tại các thị trường mới nổi tăng lượng vàng nắm giữ lên, điều này có thể đẩy giá lên trên 1,500 USD/ounce, giá dầu sẽ theo sau và có thể phá vỡ mốc 100 USD/thùng vào cuối năm 2010, hoặc đầu năm 2011.
3. Dubai sẽ đặt một dấu chấm kết thúc cho sự hồi phục giá của thị trường vàng?
Trong một bản lưu ý gửi cho các nhà đầu tư, ngân hàng Deutsche Bank đã viết: “Chúng tôi tin rằng những sự kiện tại Dubai đang chính là tâm điểm của các thị trường vào lúc này, khi mà những rủi ro về tín dụng này có nguy cơ kéo dài đến năm 2010, và điều đó có thể tạo cơ hội cho đồng USD phục hồi trở lại”.
Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009
Đằng sau động thái mua vàng của Ngân hàng Trung ương các nước
Đằng sau động thái mua vàng của Ngân hàng Trung ương các nước
Ngân hàng Trung ương hiện mất niềm tin với tất cả các loại tiền chứ không chỉ đồng USD. Điều này cũng là dễ hiểu nếu xét đến một số yếu tố.
Việc Ngân hàng Trung ương Ấn Độ và Nga mua vàng đã từng giúp giá vàng lên sát mốc 1.200USD/ounce thời gian gần đây dù trên thực tế lượng vàng họ mua không hề lớn nếu so với mục tiêu đa dạng dự trữ. Bong bóng vàng đang hình thành?
Từ tháng 9/2009 đến tháng 1/2010, Ấn Độ đang trong mùa lễ hội. Việc mua vàng cũng là bình thường. Thế nhưng không chỉ những người mua quà tặng đang đẩy mạnh mua vàng. Ngân hàng Trung ương tăng mua vàng – một trong những yếu tố quan trọng khiến giá vàng lên sát mốc 1.200USD/ounce.
Xu thế này khiến không ít người lo ngại: Thông thường, các Ngân hàng Trung ương thường mua USD cho dự trữ ngoại tệ, việc nhóm đối tượng này quan tâm nhiều hơn đến vàng có thể coi như dấu hiệu mới nhất về sự đi xuống của đồng USD trong vai trò đồng tiền dự trữ chủ chốt của thế giới.
Giá vàng đã tăng liên tục từ cuối tháng 8/2009, thế nhưng đà tăng giá ấn tượng chỉ thực sự bắt đầu từ ngày 04/11, một ngày sau khi Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ công bố mua 200 tấn vàng từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Dự trữ vàng của Ngân hàng Trung ương này nhờ thế tăng thêm 56%. Đáng nói, đến tháng 9/2009 vàng chỉ chiếm 4% tổng dự trữ của ngân hàng này.
Ông Marc Chandler, trưởng bộ phận tiền tệ tại Brown Brothers Harriman tính toán rằng giá trị dự trữ ngoại tệ của Ấn Độ đã tăng gấp đôi dự trữ vàng của nước này và như vậy thực tế dự trữ của ngân hàng chưa hề được đa dạng.
Số liệu từ Hội đồng vàng thế giới cho thấy trước khi mua vàng từ IMF, Ấn Độ chỉ sở hữu 357,7 tấn vàng tương đương 4% tổng dự trữ của ngân hàng, trong khi đó lượng vàng do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc nắm giữ là 1.054 tấn tương đương 1,9% tổng dự trữ. Trong khi đó, tính đến tháng 9/2009 FED nắm giữ 8.133 tấn vàng tương đương 77,4% tổng dự trữ.
Giá vàng giao kỳ hạn tại thị trường Chicago lên mức 1.186USD/ounce vào ngày 25/11 và sau đó đóng cửa ở mức 1.192USD/ounce.
Ngày 23/11, Ngân hàng Trung ương Nga công bố đã mua 15,6 tấn vàng trong tháng 10 để bổ sung cho dự trữ. Thế nhưng không giống như Ấn Độ, Nga mua vàng từ chính mỏ của nước này. Số vàng mua thêm chiếm 2,7% trên tổng số 568,4 tấn vàng mà Nga sở hữu tính đến tháng 9/2009. Vàng đóng góp 4,3% trong dự trữ của Ngân hàng Trung ương Nga.
Ông Leo Larkin, chuyên gia phân tích về thị trường kim loại tại S&P 500, cho biết ông sẽ không ngạc nhiên nếu các Ngân hàng Trung ương khác tăng mua vàng, và thay cho bán vàng, họ sẽ mua vàng và giữ nó như một tài sản tiền tệ trong một phần dự trữ.”
IMF, sau các đợt bán vàng, hiện còn lại 190 tấn vàng trong kế hoạch bán ra 403,3 tấn vàng để củng cố cho khả năng tài chính.
Xét đến dự đoán rằng đồng USD sẽ liên tục giảm giá, các chuyên gia kinh tế và đầu tư vì thế không ngạc nhiên khi các Ngân hàng Trung ương ngày một chuộng vàng để đa dạng dự trữ của họ.
Ông Barry Bosworth, chuyên gia nghiên cứu cao cấp tại Viện nghiên cứu Brookings ở Washington, nhận xét nhu cầu đối với đồng USD giảm sút trên thế giới có ý nghĩa đối với Ngân hàng Trung ương một số nước như Nhật, hiện nay nước này không còn phải cố gắng điều chỉnh tỷ giá hối đoái thông qua việc mua USD để hỗ trợ cho giá trị đồng USD.
Thế nhưng việc các Ngân hàng Trung ương tập trung vào vàng khiến chuyên gia Bosworth bối rối. Sẽ hợp lý hơn nếu những nước xuất khẩu hàng hóa chuyển dự trữ sang nhiều loại tiền tệ trong đó có tiền tệ của một số nước mới nổi – hiện đang trở thành đối tác thương mại ngày một lớn trên thế giới. Với triển vọng tăng trưởng tương lai của Trung Quốc, sẽ là hợp lý nếu Ngân hàng Trung ương các nước sở hữu thêm đồng nhân dân tệ, tuy nhiên đáng tiếc đây không phải là đồng tiền thuận tiện trong hoạt động mua bán.
Bởi kỳ vọng lãi suất cơ bản trên toàn thế giới sẽ ở mức thấp thêm một thời gian dài, Ngân hàng Trung ương các nước chọn đa dạng sang các loại tài sản khác ngoài USD.
Tuy nhiên, chuyên gia Larkin thuộc S&P cho rằng điều này phản ánh các Ngân hàng Trung ương hiện mất niềm tin với tất cả các loại tiền giấy chứ không chỉ đồng USD. Sự chán ngán với tiền giấy cũng là dễ hiểu khi các nước vay nợ ngày một nhiều để có tiền cứu hệ thống ngân hàng và kinh tế khỏi khủng hoảng.
Thế nhưng chức năng của vàng là công cụ giữ giá trị chứ không phải công cụ mang lại lợi nhuận. Vàng không mang lại cổ tức như cổ phiếu hay lợi suất của trái phiếu.
Trên thực tế, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã bắt đầu bán ra vàng trong dự trữ của họ vào đầu thập niên 1990. Chuyên gia Chandler cho rằng giới lãnh đạo mới của các Ngân hàng Trung ương muốn tập trung vào loại tài sản nào có khả năng mang lại lợi nhuận cao nhất để sử dụng tối ưu dự trữ của các ngân hàng.
Chuyên gia Chandler nhận xét dù việc các Ngân hàng Trung ương sử dụng vàng để đa dạng dự trữ là hợp lý – ít nhất ở thời điểm lãi suất cơ bản ở mức thấp nhu hiện nay. Thế nhưng nhà đầu tư cá nhân không nên làm như vậy. Họ sẽ tốn nhiều tiền để cất trữ và bảo đảm cho số vàng đó, chi phí này sẽ khiến nhà đầu tư mất đi lợi nhuận trong đầu tư. Chi phí cất trữ vàng trong thời gian tới được dự báo sẽ tăng.
Dù giá vàng tăng nóng trong năm 2009, mức tăng của giá vàng thấp nhất so với tất cả các kim loại quý khác. Từ đầu năm đến nay, giá vàng tăng 34%, giá paladi tăng 98%, giá bạc tăng 63% và giá bạch kịm tăng 56%.
Các chuyên gia dự đoán nhìn chung sắp tới giá vàng sẽ tăng liên tục nếu các yếu tố vĩ mô hiện tại không cải thiện.
Chuyên gia Erik Davidson thuộc Wells Fargo Private Bank cho rằng còn tồn tại yếu tố có thể đẩy giá vàng lên cao. Ông tin rằng hiện trên thị trường vàng hiện đang tồn tại bong bóng. Ông nhận định phải đến khi kinh tế thế giới trở lại ổn định, thị tường tín dụng hoạt động trôi chảy, tăng trưởng kinh tế ổn định, thị trường lao động cải thiện, giá vàng mới giảm xuống. Giá vàng cuối năm 2010 có thể ở mức thấp hơn so với hiện nay.
Nếu các thị trường và nền kinh tế trên thế giới tiếp tục có dấu hiệu ổn định hơn, giá vàng sẽ không thể dao động quanh mức 1.200USD/ounce trong thời gian dài.
Theo Businessweek
Hàn Giang
Ngân hàng Trung ương hiện mất niềm tin với tất cả các loại tiền chứ không chỉ đồng USD. Điều này cũng là dễ hiểu nếu xét đến một số yếu tố.
Việc Ngân hàng Trung ương Ấn Độ và Nga mua vàng đã từng giúp giá vàng lên sát mốc 1.200USD/ounce thời gian gần đây dù trên thực tế lượng vàng họ mua không hề lớn nếu so với mục tiêu đa dạng dự trữ. Bong bóng vàng đang hình thành?
Từ tháng 9/2009 đến tháng 1/2010, Ấn Độ đang trong mùa lễ hội. Việc mua vàng cũng là bình thường. Thế nhưng không chỉ những người mua quà tặng đang đẩy mạnh mua vàng. Ngân hàng Trung ương tăng mua vàng – một trong những yếu tố quan trọng khiến giá vàng lên sát mốc 1.200USD/ounce.
Xu thế này khiến không ít người lo ngại: Thông thường, các Ngân hàng Trung ương thường mua USD cho dự trữ ngoại tệ, việc nhóm đối tượng này quan tâm nhiều hơn đến vàng có thể coi như dấu hiệu mới nhất về sự đi xuống của đồng USD trong vai trò đồng tiền dự trữ chủ chốt của thế giới.
Giá vàng đã tăng liên tục từ cuối tháng 8/2009, thế nhưng đà tăng giá ấn tượng chỉ thực sự bắt đầu từ ngày 04/11, một ngày sau khi Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ công bố mua 200 tấn vàng từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Dự trữ vàng của Ngân hàng Trung ương này nhờ thế tăng thêm 56%. Đáng nói, đến tháng 9/2009 vàng chỉ chiếm 4% tổng dự trữ của ngân hàng này.
Ông Marc Chandler, trưởng bộ phận tiền tệ tại Brown Brothers Harriman tính toán rằng giá trị dự trữ ngoại tệ của Ấn Độ đã tăng gấp đôi dự trữ vàng của nước này và như vậy thực tế dự trữ của ngân hàng chưa hề được đa dạng.
Số liệu từ Hội đồng vàng thế giới cho thấy trước khi mua vàng từ IMF, Ấn Độ chỉ sở hữu 357,7 tấn vàng tương đương 4% tổng dự trữ của ngân hàng, trong khi đó lượng vàng do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc nắm giữ là 1.054 tấn tương đương 1,9% tổng dự trữ. Trong khi đó, tính đến tháng 9/2009 FED nắm giữ 8.133 tấn vàng tương đương 77,4% tổng dự trữ.
Giá vàng giao kỳ hạn tại thị trường Chicago lên mức 1.186USD/ounce vào ngày 25/11 và sau đó đóng cửa ở mức 1.192USD/ounce.
Ngày 23/11, Ngân hàng Trung ương Nga công bố đã mua 15,6 tấn vàng trong tháng 10 để bổ sung cho dự trữ. Thế nhưng không giống như Ấn Độ, Nga mua vàng từ chính mỏ của nước này. Số vàng mua thêm chiếm 2,7% trên tổng số 568,4 tấn vàng mà Nga sở hữu tính đến tháng 9/2009. Vàng đóng góp 4,3% trong dự trữ của Ngân hàng Trung ương Nga.
Ông Leo Larkin, chuyên gia phân tích về thị trường kim loại tại S&P 500, cho biết ông sẽ không ngạc nhiên nếu các Ngân hàng Trung ương khác tăng mua vàng, và thay cho bán vàng, họ sẽ mua vàng và giữ nó như một tài sản tiền tệ trong một phần dự trữ.”
IMF, sau các đợt bán vàng, hiện còn lại 190 tấn vàng trong kế hoạch bán ra 403,3 tấn vàng để củng cố cho khả năng tài chính.
Xét đến dự đoán rằng đồng USD sẽ liên tục giảm giá, các chuyên gia kinh tế và đầu tư vì thế không ngạc nhiên khi các Ngân hàng Trung ương ngày một chuộng vàng để đa dạng dự trữ của họ.
Ông Barry Bosworth, chuyên gia nghiên cứu cao cấp tại Viện nghiên cứu Brookings ở Washington, nhận xét nhu cầu đối với đồng USD giảm sút trên thế giới có ý nghĩa đối với Ngân hàng Trung ương một số nước như Nhật, hiện nay nước này không còn phải cố gắng điều chỉnh tỷ giá hối đoái thông qua việc mua USD để hỗ trợ cho giá trị đồng USD.
Thế nhưng việc các Ngân hàng Trung ương tập trung vào vàng khiến chuyên gia Bosworth bối rối. Sẽ hợp lý hơn nếu những nước xuất khẩu hàng hóa chuyển dự trữ sang nhiều loại tiền tệ trong đó có tiền tệ của một số nước mới nổi – hiện đang trở thành đối tác thương mại ngày một lớn trên thế giới. Với triển vọng tăng trưởng tương lai của Trung Quốc, sẽ là hợp lý nếu Ngân hàng Trung ương các nước sở hữu thêm đồng nhân dân tệ, tuy nhiên đáng tiếc đây không phải là đồng tiền thuận tiện trong hoạt động mua bán.
Bởi kỳ vọng lãi suất cơ bản trên toàn thế giới sẽ ở mức thấp thêm một thời gian dài, Ngân hàng Trung ương các nước chọn đa dạng sang các loại tài sản khác ngoài USD.
Tuy nhiên, chuyên gia Larkin thuộc S&P cho rằng điều này phản ánh các Ngân hàng Trung ương hiện mất niềm tin với tất cả các loại tiền giấy chứ không chỉ đồng USD. Sự chán ngán với tiền giấy cũng là dễ hiểu khi các nước vay nợ ngày một nhiều để có tiền cứu hệ thống ngân hàng và kinh tế khỏi khủng hoảng.
Thế nhưng chức năng của vàng là công cụ giữ giá trị chứ không phải công cụ mang lại lợi nhuận. Vàng không mang lại cổ tức như cổ phiếu hay lợi suất của trái phiếu.
Trên thực tế, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã bắt đầu bán ra vàng trong dự trữ của họ vào đầu thập niên 1990. Chuyên gia Chandler cho rằng giới lãnh đạo mới của các Ngân hàng Trung ương muốn tập trung vào loại tài sản nào có khả năng mang lại lợi nhuận cao nhất để sử dụng tối ưu dự trữ của các ngân hàng.
Chuyên gia Chandler nhận xét dù việc các Ngân hàng Trung ương sử dụng vàng để đa dạng dự trữ là hợp lý – ít nhất ở thời điểm lãi suất cơ bản ở mức thấp nhu hiện nay. Thế nhưng nhà đầu tư cá nhân không nên làm như vậy. Họ sẽ tốn nhiều tiền để cất trữ và bảo đảm cho số vàng đó, chi phí này sẽ khiến nhà đầu tư mất đi lợi nhuận trong đầu tư. Chi phí cất trữ vàng trong thời gian tới được dự báo sẽ tăng.
Dù giá vàng tăng nóng trong năm 2009, mức tăng của giá vàng thấp nhất so với tất cả các kim loại quý khác. Từ đầu năm đến nay, giá vàng tăng 34%, giá paladi tăng 98%, giá bạc tăng 63% và giá bạch kịm tăng 56%.
Các chuyên gia dự đoán nhìn chung sắp tới giá vàng sẽ tăng liên tục nếu các yếu tố vĩ mô hiện tại không cải thiện.
Chuyên gia Erik Davidson thuộc Wells Fargo Private Bank cho rằng còn tồn tại yếu tố có thể đẩy giá vàng lên cao. Ông tin rằng hiện trên thị trường vàng hiện đang tồn tại bong bóng. Ông nhận định phải đến khi kinh tế thế giới trở lại ổn định, thị tường tín dụng hoạt động trôi chảy, tăng trưởng kinh tế ổn định, thị trường lao động cải thiện, giá vàng mới giảm xuống. Giá vàng cuối năm 2010 có thể ở mức thấp hơn so với hiện nay.
Nếu các thị trường và nền kinh tế trên thế giới tiếp tục có dấu hiệu ổn định hơn, giá vàng sẽ không thể dao động quanh mức 1.200USD/ounce trong thời gian dài.
Theo Businessweek
Hàn Giang
Thứ Tư, 25 tháng 11, 2009
Nóng bỏng số phận đồng đôla
Cùng với vàng và dầu thô, thế giới hiện đang dõi theo số phận của đồng đôla Mỹ, đồng bạc xanh có bị truất ngôi bá chủ, nhất là khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn còn âm ỉ.
Nhiều kịch bản sụp đổ của đồng tiền này đã được vẽ ra và tạo ra những quan ngại thực sự: Tháng 6/2009, bốn nước vùng Vịnh là Kuwait, Ảrập Xêút, Qatar và Bahrain đã kí một hiệp ước đồng ý tạo lập hội đồng liên minh tiền tệ chung, là bước mở đầu cho việc thiết lập một ngân hàng trung ương vùng Vịnh và việc khởi xướng một liên minh tiền tệ cũng như đồng tiền riêng cho khu vực.
Tháng 7/2009, lãnh đạo các nước thành viên tham dự Hội nghị thượng đỉnh các nước Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) lần thứ 37 gồm Brazil, Argentina, Uruguay và Paraguay thảo luận một hiệp định về việc bắt đầu sử dụng đồng tiền chung trong các hoạt động thương mại của khối này vào cuối năm 2010, nhằm từng bước thay thế đồng USD.
Gần đây nhất, tháng 9/2009, Nga và Trung Quốc cũng lên tiếng kêu gọi tạo ra một đồng tiền chung toàn cầu mới. Liệu thời của đồng USD đã hết?
Sự sụp đổ của đồng đôla và phương pháp tìm kiếm lợi nhuận từ nó
Tác giả cuốn sách từng quan ngại về tính thời sự của nó bởi "có nhiều quyển sách trở nên lỗi thời ngay tại thời điểm phát hành", đặc biệt với một đề tài "nóng" như thế này. Tuy nhiên, hầu hết luận điểm được đưa ra trong 22 chương của quyển sách vẫn còn nguyên giá trị và ngày càng trở nên hữu ích trong hai năm qua, tính từ thời điểm cập nhật gần nhất - 30/11/2007.
Cuốn sách được chia thành 5 phần lớn:
Phần I - Vì sao đồng đôla sụp đổ - hé lộ nhiều nguyên nhân nền tảng dựa trên những bài học thương đau trong quá khứ có thể dẫn đến sự sụp đổ của đồng USD hiện nay, ví dụ ảo tưởng về sự thịnh vượng, thói tiêu xài vô độ, vay nợ mới để trả nợ cũ, hành vi làm tăng cung tiền bằng cách phá giá đồng tiền hiện tại...
Phần II - Tiền xưa và nay - cung cấp cái nhìn rõ ràng hơn về tiền, bản chất của tiền và vai trò thực sự của vàng.
Phần III - Vì sao giá vàng sẽ tăng vọt? - góp phần giải thích và dự báo xu hướng tăng của giá vàng. Chẳng phải những gì đang diễn ra trên thị trường vàng thế giới là minh chứng sinh động cho những luận điểm "vẫn còn nguyên giá trị" của quyển sách?
Phần IV - Tìm kiếm lợi nhuận từ sự sụp đổ của đồng USD - những khuyến nghị về các hình thức đầu tư khác trong bối cảnh đồng đôla đang suy yếu.
Phần kết - Chế độ bản vị vàng tương lai - một câu hỏi mà chỉ thời gian mới có thể trả lời. Dù chính thức bị bãi bỏ sau Hội nghị Bretton Woods để nhường chỗ cho bản vị Mỹ kim, chế độ bản vị vàng vẫn nhận được sự ủng hộ của nhiều kinh tế gia uy tín, trong đó có Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trong 19 năm. Phải chăng trong tương lai, chúng ta sẽ lại thấy một chế độ bản vị vàng mới và tiên tiến hơn.
Chính phủ Mỹ và lời giải nào cho bài toán
Chính phủ Mỹ hiện nay, từ vị trí chủ nợ thế giới sau Thế chiến II, giờ lại là con nợ lớn nhất thế giới với khoản nợ khoảng 45 nghìn tỷ USD, gấp 3 lần GDP của Mỹ. Từ năm 2002 đến nay, cứ 1 USD được tạo ra, nước Mỹ phải dùng đến 6 USD vay mượn, đồng nghĩa với mỗi gia đình 4 người mặc nhiên phải chịu một khoản nợ 600.000 USD. Hiển nhiên nước Mỹ, và cả thế giới, đang tìm cách giải quyết bài toán lớn về số phận của đồng USD, để viễn cảnh sau chỉ còn là kỷ niệm đau thương của quá khứ.
"Một ổ bánh mì có giá 160 mark vào năm 1922 đã tăng lên đến 1.500.000 mark chỉ một năm sau đó... Công nhân được trả lương theo giờ và vội vã tiêu ngay những đồng tiền đó trước khi nó mất hết giá trị. Thay vì dùng ví, người ta phải dùng xe cút kít và va li để đựng tiền khi mua hàng ở tiệm tạp hóa. Còn nhà hàng thì tăng gấp đôi giá bán sau khi thực khách vừa dùng xong bữa". (Trích Sự sụp đổ của đồng đô la và phương pháp tìm kiếm lợi nhuận từ nó, trang 43)
* Tuần Việt Nam trích đăng một nội dung đáng chú ý của cuốn sách này:
Ảo tưởng về sự thịnh vượng
Trong suốt hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, nền kinh tế Mỹ là sự thèm muốn của cả thế giới. Nó tạo ra 30 triệu việc làm mới trong khi châu Âu và Nhật Bản hầu như chẳng có gì. Nó áp đặt tư tưởng và định hướng công nghệ ở nhiều phân khúc lớn của thị trường toàn cầu và sản sinh ra số lượng triệu phú nhanh như cách một nhà máy của Ford sản xuất xe tải cỡ nhỏ. Trong giai đoạn này, giá cổ phiếu của Mỹ tăng đến 20 lần và tăng theo cách khiến hầu hết các nhà đầu tư đều tin rằng nó sẽ luôn như thế. Càng về sau, thậm chí chính phủ liên bang cũng hoạt động hiệu quả, tích lũy được các khoản thặng dư đủ lớn để chuyển nội dung cuộc tranh luận từ cách phân bổ các nguồn lực khan hiếm sang việc sẽ mất bao lâu để trả hết các khoản nợ của liên bang.
Là đồng tiền chung của đế chế mới này, đồng đôla trở thành đồng tiền thống trị thế giới. Ngân hàng trung ương các nước tích lũy đồng đôla và xem nó là tài sản dự trữ chính. Hàng hóa thương mại như dầu hỏa đều được quy ra đôla và những nền kinh tế đang lên như Argentina và Trung Quốc gắn kết đồng tiền của mình với đồng đôla với hy vọng sẽ phát triển ổn định như Mỹ. Đến năm 2000, người ta cho rằng có nhiều tờ 100 đôla lưu hành ở Nga hơn ở Mỹ.
Nhưng thế kỷ hai mươi trôi qua đã đặt dấu chấm hết cho dòng chảy phi thường này. Các loại cổ phiếu công nghệ tụt giảm, tòa Tháp Đôi bị đổ, và ý nghĩ của người Mỹ về quyền lực vạn năng cũng tan biến đi cùng với các khoản tiền dự trữ của họ. Cuối năm 2007, nước Mỹ có gần một triệu người mất việc. Chính phủ liên bang mỗi năm phải vay mượn thêm 500 tỷ đôla để tài trợ cho cuộc chiến chống khủng bố cũng như hàng loạt các chương trình xã hội khác. Lãi suất ngắn hạn một lần nữa lại tụt giảm và mặc dù nền kinh tế Mỹ đang tăng trưởng nhưng tỷ lệ vay mượn ở mọi cấp độ xã hội thậm chí còn tăng nhanh hơn. Do đó, đồng đôla trở thành đồng tiền gây khó khăn cho cả thế giới, giá trị của nó giảm khi so sánh với các đồng tiền mạnh khác và tụt dốc không phanh nếu đem so với vàng. Giờ đây, cả thế giới đang chăm chú theo dõi, cùng vò đầu gãi tai tự hỏi không biết điều gì đã thay đổi.
Câu trả lời mà chúng tôi sẽ nói rõ trong vài chương kế tiếp chính là mọi thứ đã thay đổi và không có gì thay đổi cả. Sự tăng trưởng thần diệu trong suốt hai thập niên hóa ra chỉ là ảo tưởng từ trò lừa bịp của các khoản nợ liên tục tăng và từ thái độ sẵn sàng đón nhận cơn lũ đôla mới của những nước còn lại. Bạn sẽ choáng nếu biết nước Mỹ nợ bao nhiêu. Nhưng điều khiến bạn choáng hơn chính là chúng ta vẫn còn tiếp tục mượn nợ. Cũng giống như một gia đình duy trì mức sống của mình bằng cách tiêu xài cho đến khi hết nhẵn tài khoản trong các thẻ tín dụng. Nước Mỹ cũng đang ở trong tình trạng như thế, dùng nợ mới để trả nợ cũ thay vì tạo ra của cải mới. Chính vì thế, trong những năm gần đây, nền kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm và ngày càng có nhiều người mất việc.
Vậy sao chúng tôi lại cho rằng không có gì thay đổi cả? Bởi vì những khó khăn của ngày hôm nay chỉ được xem là mới nếu xét trong phạm vi lịch sử đương đại Mỹ. Điểm qua lịch sử thế giới, thật đáng buồn là có rất nhiều trường hợp tương tự. Tất cả các xã hội vĩ đại đều đã từng trải qua chặng đường này, họ cũng vay mượn những khoản nợ không giới hạn, in (hoặc đúc) tiền trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm níu giữ ảo tưởng về sự thịnh vượng. Và sau cùng, tất cả đều nhận thấy mình đang đứng giữa một bên là đại dương xanh thẳm và một bên là những điều khủng khiếp mà ai cũng biết. Điều này có nghĩa là hoặc họ sẽ sụp đổ dưới sức nặng của các khoản nợ tồn đọng, như trường hợp của Mỹ và châu Âu trong thập niên 1930, hoặc là họ tiếp tục vận hành các cỗ máy in tiền cho đến khi đồng tiền của họ không còn giá trị và nền kinh tế rơi vào trạng thái hỗn độn.
Lúc này, chính phủ các nước rõ ràng là đang chọn cách thứ hai. Họ cắt giảm lãi suất, kích thích tiêu dùng và khuyến khích sử dụng các kỹ thuật tài chính thực hành hiện đại để tạo ra một làn sóng tín dụng lớn. Và lịch sử cho thấy, một khi đã bắt đầu thì quy trình này sẽ đưa đến một kết cục không tránh khỏi: tiền pháp định (do nhà nước quản lý) sẽ mất giá chưa từng có cho đến khi hầu hết mọi người đều từ bỏ nó. Chúng tôi biết đây là những lời nói hoàn toàn có cơ sở. Nhưng trước khi đọc hết hai chương tiếp theo, sẽ thật đáng tiếc nếu bạn cho rằng các nước hành động như thế là đúng.
Vậy thì sự sụp đổ của đống đôla có ý nghĩa như thế nào đối với tài sản của bạn? Nó có ý nghĩa về nhiều mặt, dù phần lớn là xấu nhưng vẫn có những mặt rất tiềm năng. Đầu tiên, nó ảnh hưởng đến những người có thu nhập cố định vì giá trị của mỗi đồng đôla mà họ nhận được sẽ giảm đi rất nhiều. Nó cũng ảnh hưởng đến người cho vay bởi họ sẽ phải nhận lại những đồng đôla có giá trị rất thấp (và rồi các ngân hàng cũng sẽ cùng chung cảnh ngộ này). Trái phiếu, về cơ bản là khoản vay của các công ty, chính phủ với mức trả lãi tháng cố định và hoàn gốc khi đáo hạn, sẽ trở thành các khoản đầu tư tệ hại bởi chúng được trả bằng những đồng đôla mất giá. Đối với cổ phiếu và bất động sản thì đây là một bức tranh hỗn hợp với đồng đôla khi thì tỏ ra có ích, khi thì lại gây ra những tác động xấu. Chúng tôi sẽ dẫn đường đưa bạn qua mê cung này trong chương 17.
Kẻ chiến thắng duy nhất chính là vàng. Trong khoảng 3000 năm đầu tiên của lịch sử loài người, vàng đã được chọn làm đơn vị tiền tệ với nhiều lý do vẫn còn được chấp nhận cho đến tận ngày nay. Gần đây, năm 1970, nó chính là chiếc neo của hệ thồng tài chính toàn cầu. Và từ khi các nền kinh tế trên thế giới cắt đứt mối liên hệ với kim loại này vào năm 1971, vàng đóng vai trò như một đồng tiền ngầm, giá trị của nó tăng khi đồng đôla suy yếu và giảm khi đồng đôla mạnh. Không có gì bất ngờ khi vàng trở nên hết sức mờ nhạt trong suốt hai thập niên 1980 và 1990, nó suy giảm khi đồng đôla phát triển mạnh và bị giấy bạc hất cẳng để chiếm lấy vai trò tiêu chuẩn đo lường trong thế giới tài chính. Nhưng giờ đây, vai trò của chúng sắp đảo ngược trở lại. Trong thập kỷ tới, khi đồng đôla trải qua một trong những thời kỳ suy thoái lớn nhất trong lịch sử tiền tệ, vàng sẽ giành lại vị trí trung tâm trong hệ thống tài chính toàn cầu và giá trị của nó sẽ tăng vọt so với hầu hết các đồng tiền khác. Kết quả là: tiền vàng, cổ phiếu mỏ vàng và các loại tiền điện tử dựa trên vàng sẽ là các khoản dự trữ và/hoặc gia tăng tài sản tốt hơn nhiều so với trái phiếu, cổ phiếu hay tài khoản ngân hàng quy đổi theo giá trị của đồng đôla.
Tóm lại đây là nội dung chính của cuốn sách. Nếu nó được ví như xương cánh tay thì phần còn lại của cuốn sách chính là phần thịt của cánh tay, tuy nhiên, như các sử gia từng dẫn lời của Aristotle, tất cả những gì diễn ra sau đều là sự trau chuốt thêm mà thôi.
* Sách Sự sụp đổ của đồng đôla và phương pháp tìm kiếm lợi nhuận từ nó; Tác giả: James Turk & John Robino; Dịch giả: Hoàng Trung; Nxb Tổng hợp Tp. HCM và Tinh Văn Media.
Nhiều kịch bản sụp đổ của đồng tiền này đã được vẽ ra và tạo ra những quan ngại thực sự: Tháng 6/2009, bốn nước vùng Vịnh là Kuwait, Ảrập Xêút, Qatar và Bahrain đã kí một hiệp ước đồng ý tạo lập hội đồng liên minh tiền tệ chung, là bước mở đầu cho việc thiết lập một ngân hàng trung ương vùng Vịnh và việc khởi xướng một liên minh tiền tệ cũng như đồng tiền riêng cho khu vực.
Tháng 7/2009, lãnh đạo các nước thành viên tham dự Hội nghị thượng đỉnh các nước Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) lần thứ 37 gồm Brazil, Argentina, Uruguay và Paraguay thảo luận một hiệp định về việc bắt đầu sử dụng đồng tiền chung trong các hoạt động thương mại của khối này vào cuối năm 2010, nhằm từng bước thay thế đồng USD.
Gần đây nhất, tháng 9/2009, Nga và Trung Quốc cũng lên tiếng kêu gọi tạo ra một đồng tiền chung toàn cầu mới. Liệu thời của đồng USD đã hết?
Sự sụp đổ của đồng đôla và phương pháp tìm kiếm lợi nhuận từ nó
Tác giả cuốn sách từng quan ngại về tính thời sự của nó bởi "có nhiều quyển sách trở nên lỗi thời ngay tại thời điểm phát hành", đặc biệt với một đề tài "nóng" như thế này. Tuy nhiên, hầu hết luận điểm được đưa ra trong 22 chương của quyển sách vẫn còn nguyên giá trị và ngày càng trở nên hữu ích trong hai năm qua, tính từ thời điểm cập nhật gần nhất - 30/11/2007.
Cuốn sách được chia thành 5 phần lớn:
Phần I - Vì sao đồng đôla sụp đổ - hé lộ nhiều nguyên nhân nền tảng dựa trên những bài học thương đau trong quá khứ có thể dẫn đến sự sụp đổ của đồng USD hiện nay, ví dụ ảo tưởng về sự thịnh vượng, thói tiêu xài vô độ, vay nợ mới để trả nợ cũ, hành vi làm tăng cung tiền bằng cách phá giá đồng tiền hiện tại...
Phần II - Tiền xưa và nay - cung cấp cái nhìn rõ ràng hơn về tiền, bản chất của tiền và vai trò thực sự của vàng.
Phần III - Vì sao giá vàng sẽ tăng vọt? - góp phần giải thích và dự báo xu hướng tăng của giá vàng. Chẳng phải những gì đang diễn ra trên thị trường vàng thế giới là minh chứng sinh động cho những luận điểm "vẫn còn nguyên giá trị" của quyển sách?
Phần IV - Tìm kiếm lợi nhuận từ sự sụp đổ của đồng USD - những khuyến nghị về các hình thức đầu tư khác trong bối cảnh đồng đôla đang suy yếu.
Phần kết - Chế độ bản vị vàng tương lai - một câu hỏi mà chỉ thời gian mới có thể trả lời. Dù chính thức bị bãi bỏ sau Hội nghị Bretton Woods để nhường chỗ cho bản vị Mỹ kim, chế độ bản vị vàng vẫn nhận được sự ủng hộ của nhiều kinh tế gia uy tín, trong đó có Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trong 19 năm. Phải chăng trong tương lai, chúng ta sẽ lại thấy một chế độ bản vị vàng mới và tiên tiến hơn.
Chính phủ Mỹ và lời giải nào cho bài toán
Chính phủ Mỹ hiện nay, từ vị trí chủ nợ thế giới sau Thế chiến II, giờ lại là con nợ lớn nhất thế giới với khoản nợ khoảng 45 nghìn tỷ USD, gấp 3 lần GDP của Mỹ. Từ năm 2002 đến nay, cứ 1 USD được tạo ra, nước Mỹ phải dùng đến 6 USD vay mượn, đồng nghĩa với mỗi gia đình 4 người mặc nhiên phải chịu một khoản nợ 600.000 USD. Hiển nhiên nước Mỹ, và cả thế giới, đang tìm cách giải quyết bài toán lớn về số phận của đồng USD, để viễn cảnh sau chỉ còn là kỷ niệm đau thương của quá khứ.
"Một ổ bánh mì có giá 160 mark vào năm 1922 đã tăng lên đến 1.500.000 mark chỉ một năm sau đó... Công nhân được trả lương theo giờ và vội vã tiêu ngay những đồng tiền đó trước khi nó mất hết giá trị. Thay vì dùng ví, người ta phải dùng xe cút kít và va li để đựng tiền khi mua hàng ở tiệm tạp hóa. Còn nhà hàng thì tăng gấp đôi giá bán sau khi thực khách vừa dùng xong bữa". (Trích Sự sụp đổ của đồng đô la và phương pháp tìm kiếm lợi nhuận từ nó, trang 43)
* Tuần Việt Nam trích đăng một nội dung đáng chú ý của cuốn sách này:
Ảo tưởng về sự thịnh vượng
Trong suốt hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, nền kinh tế Mỹ là sự thèm muốn của cả thế giới. Nó tạo ra 30 triệu việc làm mới trong khi châu Âu và Nhật Bản hầu như chẳng có gì. Nó áp đặt tư tưởng và định hướng công nghệ ở nhiều phân khúc lớn của thị trường toàn cầu và sản sinh ra số lượng triệu phú nhanh như cách một nhà máy của Ford sản xuất xe tải cỡ nhỏ. Trong giai đoạn này, giá cổ phiếu của Mỹ tăng đến 20 lần và tăng theo cách khiến hầu hết các nhà đầu tư đều tin rằng nó sẽ luôn như thế. Càng về sau, thậm chí chính phủ liên bang cũng hoạt động hiệu quả, tích lũy được các khoản thặng dư đủ lớn để chuyển nội dung cuộc tranh luận từ cách phân bổ các nguồn lực khan hiếm sang việc sẽ mất bao lâu để trả hết các khoản nợ của liên bang.
Là đồng tiền chung của đế chế mới này, đồng đôla trở thành đồng tiền thống trị thế giới. Ngân hàng trung ương các nước tích lũy đồng đôla và xem nó là tài sản dự trữ chính. Hàng hóa thương mại như dầu hỏa đều được quy ra đôla và những nền kinh tế đang lên như Argentina và Trung Quốc gắn kết đồng tiền của mình với đồng đôla với hy vọng sẽ phát triển ổn định như Mỹ. Đến năm 2000, người ta cho rằng có nhiều tờ 100 đôla lưu hành ở Nga hơn ở Mỹ.
Nhưng thế kỷ hai mươi trôi qua đã đặt dấu chấm hết cho dòng chảy phi thường này. Các loại cổ phiếu công nghệ tụt giảm, tòa Tháp Đôi bị đổ, và ý nghĩ của người Mỹ về quyền lực vạn năng cũng tan biến đi cùng với các khoản tiền dự trữ của họ. Cuối năm 2007, nước Mỹ có gần một triệu người mất việc. Chính phủ liên bang mỗi năm phải vay mượn thêm 500 tỷ đôla để tài trợ cho cuộc chiến chống khủng bố cũng như hàng loạt các chương trình xã hội khác. Lãi suất ngắn hạn một lần nữa lại tụt giảm và mặc dù nền kinh tế Mỹ đang tăng trưởng nhưng tỷ lệ vay mượn ở mọi cấp độ xã hội thậm chí còn tăng nhanh hơn. Do đó, đồng đôla trở thành đồng tiền gây khó khăn cho cả thế giới, giá trị của nó giảm khi so sánh với các đồng tiền mạnh khác và tụt dốc không phanh nếu đem so với vàng. Giờ đây, cả thế giới đang chăm chú theo dõi, cùng vò đầu gãi tai tự hỏi không biết điều gì đã thay đổi.
Câu trả lời mà chúng tôi sẽ nói rõ trong vài chương kế tiếp chính là mọi thứ đã thay đổi và không có gì thay đổi cả. Sự tăng trưởng thần diệu trong suốt hai thập niên hóa ra chỉ là ảo tưởng từ trò lừa bịp của các khoản nợ liên tục tăng và từ thái độ sẵn sàng đón nhận cơn lũ đôla mới của những nước còn lại. Bạn sẽ choáng nếu biết nước Mỹ nợ bao nhiêu. Nhưng điều khiến bạn choáng hơn chính là chúng ta vẫn còn tiếp tục mượn nợ. Cũng giống như một gia đình duy trì mức sống của mình bằng cách tiêu xài cho đến khi hết nhẵn tài khoản trong các thẻ tín dụng. Nước Mỹ cũng đang ở trong tình trạng như thế, dùng nợ mới để trả nợ cũ thay vì tạo ra của cải mới. Chính vì thế, trong những năm gần đây, nền kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm và ngày càng có nhiều người mất việc.
Vậy sao chúng tôi lại cho rằng không có gì thay đổi cả? Bởi vì những khó khăn của ngày hôm nay chỉ được xem là mới nếu xét trong phạm vi lịch sử đương đại Mỹ. Điểm qua lịch sử thế giới, thật đáng buồn là có rất nhiều trường hợp tương tự. Tất cả các xã hội vĩ đại đều đã từng trải qua chặng đường này, họ cũng vay mượn những khoản nợ không giới hạn, in (hoặc đúc) tiền trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm níu giữ ảo tưởng về sự thịnh vượng. Và sau cùng, tất cả đều nhận thấy mình đang đứng giữa một bên là đại dương xanh thẳm và một bên là những điều khủng khiếp mà ai cũng biết. Điều này có nghĩa là hoặc họ sẽ sụp đổ dưới sức nặng của các khoản nợ tồn đọng, như trường hợp của Mỹ và châu Âu trong thập niên 1930, hoặc là họ tiếp tục vận hành các cỗ máy in tiền cho đến khi đồng tiền của họ không còn giá trị và nền kinh tế rơi vào trạng thái hỗn độn.
Lúc này, chính phủ các nước rõ ràng là đang chọn cách thứ hai. Họ cắt giảm lãi suất, kích thích tiêu dùng và khuyến khích sử dụng các kỹ thuật tài chính thực hành hiện đại để tạo ra một làn sóng tín dụng lớn. Và lịch sử cho thấy, một khi đã bắt đầu thì quy trình này sẽ đưa đến một kết cục không tránh khỏi: tiền pháp định (do nhà nước quản lý) sẽ mất giá chưa từng có cho đến khi hầu hết mọi người đều từ bỏ nó. Chúng tôi biết đây là những lời nói hoàn toàn có cơ sở. Nhưng trước khi đọc hết hai chương tiếp theo, sẽ thật đáng tiếc nếu bạn cho rằng các nước hành động như thế là đúng.
Vậy thì sự sụp đổ của đống đôla có ý nghĩa như thế nào đối với tài sản của bạn? Nó có ý nghĩa về nhiều mặt, dù phần lớn là xấu nhưng vẫn có những mặt rất tiềm năng. Đầu tiên, nó ảnh hưởng đến những người có thu nhập cố định vì giá trị của mỗi đồng đôla mà họ nhận được sẽ giảm đi rất nhiều. Nó cũng ảnh hưởng đến người cho vay bởi họ sẽ phải nhận lại những đồng đôla có giá trị rất thấp (và rồi các ngân hàng cũng sẽ cùng chung cảnh ngộ này). Trái phiếu, về cơ bản là khoản vay của các công ty, chính phủ với mức trả lãi tháng cố định và hoàn gốc khi đáo hạn, sẽ trở thành các khoản đầu tư tệ hại bởi chúng được trả bằng những đồng đôla mất giá. Đối với cổ phiếu và bất động sản thì đây là một bức tranh hỗn hợp với đồng đôla khi thì tỏ ra có ích, khi thì lại gây ra những tác động xấu. Chúng tôi sẽ dẫn đường đưa bạn qua mê cung này trong chương 17.
Kẻ chiến thắng duy nhất chính là vàng. Trong khoảng 3000 năm đầu tiên của lịch sử loài người, vàng đã được chọn làm đơn vị tiền tệ với nhiều lý do vẫn còn được chấp nhận cho đến tận ngày nay. Gần đây, năm 1970, nó chính là chiếc neo của hệ thồng tài chính toàn cầu. Và từ khi các nền kinh tế trên thế giới cắt đứt mối liên hệ với kim loại này vào năm 1971, vàng đóng vai trò như một đồng tiền ngầm, giá trị của nó tăng khi đồng đôla suy yếu và giảm khi đồng đôla mạnh. Không có gì bất ngờ khi vàng trở nên hết sức mờ nhạt trong suốt hai thập niên 1980 và 1990, nó suy giảm khi đồng đôla phát triển mạnh và bị giấy bạc hất cẳng để chiếm lấy vai trò tiêu chuẩn đo lường trong thế giới tài chính. Nhưng giờ đây, vai trò của chúng sắp đảo ngược trở lại. Trong thập kỷ tới, khi đồng đôla trải qua một trong những thời kỳ suy thoái lớn nhất trong lịch sử tiền tệ, vàng sẽ giành lại vị trí trung tâm trong hệ thống tài chính toàn cầu và giá trị của nó sẽ tăng vọt so với hầu hết các đồng tiền khác. Kết quả là: tiền vàng, cổ phiếu mỏ vàng và các loại tiền điện tử dựa trên vàng sẽ là các khoản dự trữ và/hoặc gia tăng tài sản tốt hơn nhiều so với trái phiếu, cổ phiếu hay tài khoản ngân hàng quy đổi theo giá trị của đồng đôla.
Tóm lại đây là nội dung chính của cuốn sách. Nếu nó được ví như xương cánh tay thì phần còn lại của cuốn sách chính là phần thịt của cánh tay, tuy nhiên, như các sử gia từng dẫn lời của Aristotle, tất cả những gì diễn ra sau đều là sự trau chuốt thêm mà thôi.
* Sách Sự sụp đổ của đồng đôla và phương pháp tìm kiếm lợi nhuận từ nó; Tác giả: James Turk & John Robino; Dịch giả: Hoàng Trung; Nxb Tổng hợp Tp. HCM và Tinh Văn Media.
Các NHTW của Các nền kinh tế mới nổi có lí do để mua thêm vàng
Stephen Jen, giám đốc điều hành kinh tế vĩ mô và tiền tệ thuộc quỹ BlueGold Capital Management cho biết các NHTW của các thị trường mới nổi có khả năng tăng cường mua vàng do trữ lượng vàng của họ còn thua xa so với trữ lượng từ các NHTW của các nền kinh tế phát triển
Theo bản báo cáo, trung bình tỉ phần vàng trong tổng dự trữ vàng và ngoại hối của Mỹ, Nhật, ECB, Anh, Đức, Ý, Pháp, và Thụy Sĩ là 37.9% trong khi đó Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Đài Loan, Nam Phi, Hong Kong, Brazil và Singapore chỉ chiếm 2.2% tỉ phần trữ lượng vàng nắm giữ
Jen cho biết “Con số trên chỉ rõ rằng nếu các NHTW mới nổi quyết định đa dạng hóa nguồn dự trữ sang vàng, họ phải mua nhiều vàng hơn”
Jen cho biết top 8 ngân hàng mới nổi sở hữu $4.1 nghìn tỉ dự trữ ngoại hối, con số này cho thấy nếu các ngân hàng này muốn chuyển 1% dự trữ ngoại hối sang vàng, họ phải mua tương ứng số vàng trị giá $41 tỉ
“Nếu các ngân hàng này muốn tăng lượng nắm giữ vàng từ mức 2.2% hiện tại lên 5%, họ phải mua một khối lượng vàng trị giá $115 tỉ”
Sự kiện ngân hàng TW Ấn Độ đã mua 200 tấn vàng từ IMF với số tiền $7 tỉ là một trong những nhân tố đẩy Giá vàng lên các mức cao kỉ lục.
BlueGold
Theo bản báo cáo, trung bình tỉ phần vàng trong tổng dự trữ vàng và ngoại hối của Mỹ, Nhật, ECB, Anh, Đức, Ý, Pháp, và Thụy Sĩ là 37.9% trong khi đó Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Đài Loan, Nam Phi, Hong Kong, Brazil và Singapore chỉ chiếm 2.2% tỉ phần trữ lượng vàng nắm giữ
Jen cho biết “Con số trên chỉ rõ rằng nếu các NHTW mới nổi quyết định đa dạng hóa nguồn dự trữ sang vàng, họ phải mua nhiều vàng hơn”
Jen cho biết top 8 ngân hàng mới nổi sở hữu $4.1 nghìn tỉ dự trữ ngoại hối, con số này cho thấy nếu các ngân hàng này muốn chuyển 1% dự trữ ngoại hối sang vàng, họ phải mua tương ứng số vàng trị giá $41 tỉ
“Nếu các ngân hàng này muốn tăng lượng nắm giữ vàng từ mức 2.2% hiện tại lên 5%, họ phải mua một khối lượng vàng trị giá $115 tỉ”
Sự kiện ngân hàng TW Ấn Độ đã mua 200 tấn vàng từ IMF với số tiền $7 tỉ là một trong những nhân tố đẩy Giá vàng lên các mức cao kỉ lục.
BlueGold
Đồng USD vẫn yếu khi Fed bắt đầu tăng lãi suất
Các nhà hoạch định chính sách cho biết rằng đồng USD là một tiền tệ dự trữ nhưng nó vẫn suy yếu một thời gian nữa thậm chí khi Fed bắt đầu tăng mức lãi suất.
Standard Chartered Plc, Aletti Gestielle SGR, HSBC Holdings Plc và Scotia Capital Inc cho biết rằng đồng USD sẽ giảm giá rất nhiều so với đồng EUR, khoảng 6.4%. Với khoảng chừng 12 ngàn tỷ của chính sách kích thích tiền tệ và tài chính, chi phí cho vay thấp nhất thế giới, và một kỷ lục 4 ngàn tỷ của doanh số bán trái phiếu chính phủ giữa năm 2009 và 2010 sẽ là gánh nặng trên tiền tệ, họ cho biết thêm.
“Lịch sử cho chúng ta biết đồng USD không thể tăng một cách chắn chắn cho đến 12 tháng sau khi Fed bắt đầu tăng lãi suất,” ông Callum Henderson, một nhà chiến lược gia về ngoại tệ của Standard Chartered cho biết. Theo ông thì “đồng USD sẽ vẫn suy yếu khi Fed tăng tỷ giá cao hơn đối thủ cạnh tranh của mình.”
Mỹ sẽ là một trong năm nền kinh tế sẽ tăng mức lãi suất của mình lên vào hơn nữa năm 2010, theo dự đoán trung bình của 60 nhà kinh tế học được khảo sát bởi Bloomberg. Fed, ECB, BOE và ngân hàng Thụy Sỹ sẽ tăng mức lãi suất vào quý III năm sau, cuộc khảo sát cho thấy.
Camilla Sutton, chiến lược gia ngoại tệ tại Scotia Capital ở Toronto cho biết “mức lãi suất hiện tại làm cho đồng USD trở nên ít sức hấp dẫn hơn so với các tài sản khác, và vì thế đồng USD vẫn còn suy yếu. Nợ Mỹ cùng với lượng tiền quá nhiều trong nền kinh tế đã tạo áp lực lên đồng USD, vì thế mặt dù Fed tăng lãi suất thì đồng tiền xanh vẫn suy yếu một thời gian sau đó.”
Ngân hàng Bank of Nova Scotia dự báo chính xác nhất đồng USD so với đồng CHF tại bảng xếp hạng của Bloomberg, dự báo năm 2010 sẽ kết thúc với đồng USD yếu hơn tại 1.60 trên mỗi đồng EUR.
Sau khi các nhà hoạch định chính sách đã bắt đầu tăng mức lãi suất lên vào tháng 7/2004, chỉ số USD Index giảm 10% và không thể quay lại mức đã đạt được trước đó trong hơn một tháng. Điều này nói lên rằng đồng USD hiện nay đang suy yếu và phải chịu nhiều áp lực từ khu vực tài chính, và điều này có thể vẫn tác động lên đồng USD yếu mặt dù Fed bắt đầu tăng lãi suất.
Jens Nordvig, một nhà quản lý và đứng đầu chiến lược tiền tệ của G-10 tại Nomura International Plc ở New York, cũng là người mua lại tài sản tại Châu Âu, Châu Á và Trung Đông của Lehman Brothers trong năm 2008 cho biết “không có dấu hiệu nào cho thấy đồng USD sẽ thoát khỏi thị trường con gấu trong năm 2010.”
Fxvietnam.vn
Standard Chartered Plc, Aletti Gestielle SGR, HSBC Holdings Plc và Scotia Capital Inc cho biết rằng đồng USD sẽ giảm giá rất nhiều so với đồng EUR, khoảng 6.4%. Với khoảng chừng 12 ngàn tỷ của chính sách kích thích tiền tệ và tài chính, chi phí cho vay thấp nhất thế giới, và một kỷ lục 4 ngàn tỷ của doanh số bán trái phiếu chính phủ giữa năm 2009 và 2010 sẽ là gánh nặng trên tiền tệ, họ cho biết thêm.
“Lịch sử cho chúng ta biết đồng USD không thể tăng một cách chắn chắn cho đến 12 tháng sau khi Fed bắt đầu tăng lãi suất,” ông Callum Henderson, một nhà chiến lược gia về ngoại tệ của Standard Chartered cho biết. Theo ông thì “đồng USD sẽ vẫn suy yếu khi Fed tăng tỷ giá cao hơn đối thủ cạnh tranh của mình.”
Mỹ sẽ là một trong năm nền kinh tế sẽ tăng mức lãi suất của mình lên vào hơn nữa năm 2010, theo dự đoán trung bình của 60 nhà kinh tế học được khảo sát bởi Bloomberg. Fed, ECB, BOE và ngân hàng Thụy Sỹ sẽ tăng mức lãi suất vào quý III năm sau, cuộc khảo sát cho thấy.
Camilla Sutton, chiến lược gia ngoại tệ tại Scotia Capital ở Toronto cho biết “mức lãi suất hiện tại làm cho đồng USD trở nên ít sức hấp dẫn hơn so với các tài sản khác, và vì thế đồng USD vẫn còn suy yếu. Nợ Mỹ cùng với lượng tiền quá nhiều trong nền kinh tế đã tạo áp lực lên đồng USD, vì thế mặt dù Fed tăng lãi suất thì đồng tiền xanh vẫn suy yếu một thời gian sau đó.”
Ngân hàng Bank of Nova Scotia dự báo chính xác nhất đồng USD so với đồng CHF tại bảng xếp hạng của Bloomberg, dự báo năm 2010 sẽ kết thúc với đồng USD yếu hơn tại 1.60 trên mỗi đồng EUR.
Sau khi các nhà hoạch định chính sách đã bắt đầu tăng mức lãi suất lên vào tháng 7/2004, chỉ số USD Index giảm 10% và không thể quay lại mức đã đạt được trước đó trong hơn một tháng. Điều này nói lên rằng đồng USD hiện nay đang suy yếu và phải chịu nhiều áp lực từ khu vực tài chính, và điều này có thể vẫn tác động lên đồng USD yếu mặt dù Fed bắt đầu tăng lãi suất.
Jens Nordvig, một nhà quản lý và đứng đầu chiến lược tiền tệ của G-10 tại Nomura International Plc ở New York, cũng là người mua lại tài sản tại Châu Âu, Châu Á và Trung Đông của Lehman Brothers trong năm 2008 cho biết “không có dấu hiệu nào cho thấy đồng USD sẽ thoát khỏi thị trường con gấu trong năm 2010.”
Fxvietnam.vn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
