Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

Nhà đầu tư quốc tế còn “cọc” nào để bám?

Thị trường một lần nữa rơi vào trạng thái hoảng loạn, sau khi Tây Ban Nha bất ngờ vượt cả Italy và Hy Lạp giành lấy "danh hiệu" "quả bom nợ công chờ nổ" mới. Dường như, khủng hoảng nợ công châu Âu mỗi lúc lại thêm một mắt xích mới bị vỡ và như nhiều nhà phân tích lo lắng, tình hình này đang vượt tầm kiểm soát.

Theo đánh giá của mạng tin Nghiên cứu toàn cầu, cuộc khủng hoảng nợ công tại Eurozone đang vượt khỏi tầm kiểm soát và liên minh tiền tệ này phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ. Cuộc khủng hoảng này đang ngày càng nóng và có nguy cơ lan từ Hy Lạp sang Italy (nền kinh tế lớn thứ ba châu Âu) và Tây Ban Nha (nền kinh tế lớn thứ tư châu Âu).

Một số chuyên gia còn bi quan tới mức cho rằng, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu hiện vẫn chưa tới đáy và nó có thể bùng nổ vào năm 2012.

Phân tích cụ thể, tờ Les Echos của Pháp hôm 16/11 cho rằng, khủng hoảng nợ công ở châu Âu đang chuyển sang giai đoạn nguy kịch hơn, tác động đến hầu hết các nước thành viên khu vực. Tại Pháp, mức chênh lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của nước này so với lãi suất chuẩn của Đức ngày 15/11 lên đến 190 điểm cơ bản.

Tình trạng các nhà đầu tư mất niềm tin vào nợ công của Pháp càng tăng khi chỉ số xếp hạng tín nhiệm tín dụng của nước này liên tục bị đe dọa, do kinh tế tăng trưởng chậm trong khi các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách nhà nước chưa mang lại kết quả. Pháp sẽ tiếp tục thăm dò lòng tin của các nhà đầu tư với dự định phát hành trái phiếu5 năm với mức lãi suất 2,4%.

Trước đó, tờ Le Monde của Pháp cũng cảnh báo rằng, nền kinh tế lớn thứ hai trong Liên minh châu Âu - có thể trở thành nạn nhân tiếp theo của cuộc khủng hoảng nợ công, sau Hy Lạp và Italy. Báo này đã đưa ra những con số đáng báo động rằng các khoản nợ của Pháp đã chạm ngưỡng 1.700 tỷ Euro, chỉ thấp hơn chút ít so với mức tương ứng 1.900 tỷ Euro của Italy.

Tuy nhiên, tình hình nợ công của Pháp có phần rủi ro hơn cả Italy, bởi lẽ chủ các khoản nợ chính phủ Italy là các nhà đầu tư trong nước, trong khi Pháp chủ yếu lại vay nợ nước ngoài. Vì vậy Pháp rất dễ tổn thương một khi thị trường quốc tế có biến động mạnh.

Tại Tây Ban Nha, chính phủ nước này lần đầu tiên đã thừa nhận không thể đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế 1,3% trong năm 2011. Thứ trưởng Bộ Tài chính Jose Manuel Campa khẳng định tốc độ tăng trưởng kinh tế năm nay sẽ thấp hơn nhiều so với mục tiêu ban đầu đề ra.

Với tốc độ tăng trưởng cả năm dự kiến đạt 0,8% so với mục tiêu ban đầu 1,3%, cộng với tỷ lệ thất nghiệp lên tới 21,5%, quốc gia được coi là "con bài đôminô" nợ công tiếp theo trong Khu vực đồng euro này có thể lại rơi vào suy thoái kinh tế, chỉ sau 2 năm vừa thoát khỏi tình trạng trên.

Phiên giao dịch hôm qua, lợi suất trái phiếu chính phủ của Tây Ban Nha loại kỳ hạn 10 năm đã lên tới gần 7%, mức cao nhất kể tử năm 1997 tới nay. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, đây là mức không thể chống đỡ được, bởi nó sẽ khiến gánh nặng nợ nần của nền kinh tế này lên tới mức chính phủ Tây Ban Nha không thể thanh toán nổi.

Trước đó, Hy Lạp và Ireland cũng đã buộc phải cầu cứu khoản viện trợ từ Liên minh châu Âu sau khi lợi suất trái phiếu chính phủ của 2 nền kinh tế này tăng qua mốc 7%.

Như vậy là chỉ trong một thời gian ngắn, liên tiếp chi phí vay mượn của các quốc gia châu Âu đã vượt ngưỡng cho phép, khiến nhà đầu tư hoảng loạn, bán tháo các tài sản rủi ro có trong tay và đẩy thị trường vào cảnh nước sôi lửa bỏng, xóa mờ tất cả những thông tin kinh tế lạc quan khác được công bố cùng ngày.

Đêm qua, trên thị trường chứng khoán Mỹ, chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm 134,71 điểm, tương ứng 1,13%, xuống mức 11.770,80 điểm. Chỉ số S&P 500 hạ 20,73 điểm, tương ứng 1,68%, xuống còn 1.216,18 điểm. Chỉ số Nasdaq Composite trượt 51,62 điểm, tương ứng 1,96%, xuống chốt ở 2.587,99 điểm.

Cùng ngày, các sàn chứng khoán châu Âu cũng rơi vào trạng thái đỏ lửa như các chỉ số chứng khoán Mỹ. Chỉ số FTSE 100 của Anh hạ 1,56% xuống mức 5.423,14 điểm. Chỉ số CAC 40 của Pháp trượt 1,78% xuống còn 3.010,29 điểm. Chỉ số DAX của Đức giảm 1,07% xuống còn 5.850,17 điểm.

Trên thị trường năng lượng, chốt ngày 17/11, giá dầu thô ngọt, nhẹ giao tháng 12/2011 trên sàn giao dịch hàng hóa New York đã giảm tới 3,77 USD, tương ứng 3,7%, xuống 98,82 USD/thùng. Phiên giao dịch liền trước, giá dầu đã tăng tới 3,2% lên chốt ở mức cao nhất kể từ cuối tháng 5 tới nay.

Cùng với giá dầu thô, các mặt hàng năng lượng khác như xăng và dầu sưởi cũng rớt mạnh. Cụ thể, giá xăng giao tháng 12 giảm 12 xu, tương ứng 4,6%, xuống 2,51 USD/gallon. Dầu sưởi giao cùng kỳ hạn trượt 5 xu, tương ứng 1,6%, xuống chốt ở 3,08 USD/gallon.

Trên thị trường vàng, bất chấp báo cáo của Hội đồng Vàng Thế giới về nhu cầu vàng tăng 6% trong quý 3/2011, nhà đầu tư đã bán tháo kim loại quý này trong ngày hôm qua, khiến, giá vàng giao sau giảm hơn 54 USD, tương ứng 3,1%, xuống 1.720,20 USD/ounce, thấp nhất kể từ ngày 1/11.

Trong phiên, có lúc giá vàng giao sau giảm xuống 1.711 USD/ounce. Mức cao nhất của giá vàng trong phiên là 1.768 USD/ounce. Trên bảng thanh toán trực tuyến Kitco, giá vàng giao ngay cũng giảm mạnh khi bốc hơi 44 USD trên mỗi ounce.

Tương tự như vàng, giá bạc giao tháng 12 giảm 6,9% xuống 31,5 USD/ounce, thấp nhất trong khoảng 4 tuần. Giá kim loại đồng giao tháng 12 giảm 2,9%. Giá bạch kim giao tháng 1 năm sau giảm 3,1% xuống 1.581,1 USD/ounce, và giá paladium giao tháng 12 trượt 7,8% xuống còn 603,7 USD/ounce.

Sự suy giảm đồng loạt của các thị trường vàng, dầu, chứng khoán trong phiên giao dịch đêm qua cho thấy những nguy cơ cùng lo lắng xung quanh tình hình kinh tế châu Âu vẫn tiếp tục chi phối thị trường. Tuy nhiên, giới đầu tư cũng không thể bỏ qua vấn đề nợ công tại Mỹ

Theo các số liệu được Bộ Tài chính Mỹ công bố một ngày trước, tổng nợ chính phủ của Mỹ đã vượt con số 15.000 tỷ USD. Số liệu trên cho thấy gánh nặng nợ liên bang đè lên vai người dân Mỹ đã tăng thêm 55,8 tỷ USD, lên mức xấp xỉ 15.033 tỷ USD, gần tương đương 99% quy mô nền kinh tế Mỹ ước tính trong năm 2011.

Như vậy, với dân số là 312.619.508 người, hiện mỗi người Mỹ nợ khoảng 48.089,15 USD. Theo các chuyên gia kinh tế, mức nợ công này rất không ổn. Nợ công của Chính phủ Mỹ đã liên tục tăng kể từ ngày 2/8, thời điểm Quốc hội thống nhất nâng trần nợ chính thức từ mức 14,3 nghìn tỷ USD lên 15,19 nghìn tỷ USD.

Nợ công Mỹ chạm mốc 15.000 tỷ USD trong bối cảnh ủy ban đặc biệt của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa trong Quốc hội vẫn còn bế tắc về cách thức cắt giảm chi tiêu khi chỉ còn hơn một tuần nữa là đến thời hạn cuối cùng 23/11.

Trong một diễn biến khác, theo Chủ tịch Hội đồng các cố vấn kinh tế Naroff, ông Joel Naroff, bang Pennsylvania, Mỹ đang và sẽ tiếp tục là nơi an toàn nhất cho các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) t ong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nguy cơ suy thoái kép hiện nay.

Trong khi đó, Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ (FED), ông Ben Bernanke cho biết trái phiếu kho bạc Mỹ vẫn hấp dẫn các nhà đầu tư quốc tế bất chấp Mỹ bị hạ uy tín tín dụng và thâm hụt ngân sách năm tài chính tính đến tháng 9 năm nay đã tăng từ 1.290 tỷ USD năm tài chính 2010 lên 1.300 tỷ USD.

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu và khủng hoảng nợ của châu Âu, các nhà đầu tư toàn cầu săn lùng mua các cổ phiếu, chứng khoán, trái phiếu kho bạc ngắn hạn và dài hạn của Mỹ bất chấp sự tiếp tục trì trệ của nền kinh tế này và việc tổ chức định mức tín nhiệm S&P hạ bậc tín dụng của Mỹ, đẩy lãi suất các trái phiếu kho bạc Mỹ xuống mức thấp kỷ lục.

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011

Mỹ và Tàu

1. Obama: 'Mỹ không sợ Trung Quốc'
Sau khi dự hội nghị các nền kinh tế châu Á Thái Bình Dương tại thành phố Honolulu, Tổng thống Mỹ bay sang Australia hôm qua để gặp Thủ tướng Julia Gillard. Hai nhà lãnh đạo đã ký kết thỏa thuận an ninh mới với Australia tại thành phố Canberra hôm qua. Theo thỏa thuận, Mỹ sẽ đưa thêm nhân lực và thiết bị tới Australia, đồng thời Washington cũng được phép thuê thêm nhiều căn cứ quân sự của Canberra, đưa tin.
Ông Obama bình luận rằng thỏa thuận mới là "quan trọng" bởi nó thúc đẩy hợp tác giữa hai nước. Giới chức Mỹ tỏ ra thận trọng khi nói rằng thỏa thuận không phải là nỗ lực duy trì sự hiện diện lâu dài của quân đội Mỹ trên lãnh thổ Australia.
Trong cuộc họp báo chung với bà Gillard, ông Obama không đưa ra câu trả lời cụ thể khi các phóng viên hỏi rằng thỏa thuận an ninh giữa Mỹ và Australia có phải là công cụ để ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc hay không. Nhưng ông khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục gửi một thông điệp rõ ràng: Trung Quốc cần phải gánh vác những trách nhiệm của một cường quốc trên thế giới.
“Điều quan trọng là Trung Quốc phải hành xử theo luật”, ông nói.
Ông chủ Nhà Trắng cũng nhấn mạnh rằng Mỹ không sợ sự trỗi dậy của Trung Quốc.
“Tôi nghĩ nhiều người đã mắc sai lầm khi quan niệm rằng Mỹ sợ Trung Quốc và muốn ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc”, ông phát biểu.
Bắc Kinh phản ứng ngay lập tức sau khi Mỹ ký kết thỏa thuận an ninh với Australia. Ông Lưu Vi Dân, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, cho rằng Washington và Canberra nên thảo luận xem thỏa thuận có phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế hay không.
Ben Rhodes, cố vấn an ninh quốc gia của Nhà Trắng, đáp lại rằng thỏa thuận không những hợp lý, mà còn đáp ứng yêu cầu của nhiều nước trong khu vực. Những nước này muốn Mỹ tăng cường hiện diện tại châu Á-Thái Bình Dương.
2. Mỹ thể hiện sự hiện diện ở châu Á - Thái Bình Dương
Trước chuyến công du tới châu Á – Thái Bình Dương, ông Obama đã phê chuẩn đề xuất của Lầu Năm Góc thành lập phòng đặc biệt chuyên đối phó với Trung Quốc.
(ĐVO) Hơn 1 tháng sau tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton về kế hoạch dịch chuyển trọng tâm ưu tiên của Mỹ sang châu Á – Thái Bình Dương, các quốc gia trong khu vực nay đã cảm nhận được sức nóng hầm hập đến từ bờ kia Đại Tây Dương.
Ngày 16/11, Tổng thống Mỹ bắt đầu chuyến công du 4 ngày quan trọng tới khu vực này. Ông Barack Obama sẽ ghé thăm Australia trước khi tới Bali, Indonesia để tham dự một loạt cuộc họp quan trọng với ASEAN và các đối tác Đông Á. Tháp tùng Tổng thống Barack Obama là nhiều Bộ trưởng, quan chức Nhà Trắng cùng 150 phóng viên các hãng truyền thông lớn của Mỹ.
Tại Australia, ông Obama công bố thoả thuận quan trọng, theo đó Australia sẽ cho phép mở rộng sự có mặt quân sự của Mỹ tại quốc gia này, nơi được xem là khởi điểm của 1 trong 10 tuyến đường biển thông thương lớn nhất thế giới có liên quan tới Biển Đông (tuyến Đông Á đi Australia, New Zealand, Nam Thái Bình Dương).
Một ngày trước chuyến công du của Tổng thống, ngày 15/11, Ngoại trưởng Hillary Clinton cũng đã tới Philippines. Tại cuộc hội đàm với Tổng thống Philippines Benigno Aquino, Ngọai trưởng Mỹ đề cập tới an ninh trên Biển Đông cũng như đề xuất các kế hoạch tăng cường hợp tác trên biển với chính quyền Manila.
Trong thời gian tham dự các Hội nghị tại Bali, Barack Obama cũng sẽ tiến hành một loạt các cuộc gặp song phương với người đồng cấp của 5 nước là Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines.
Giới phân tích quốc tế cho rằng, các cuộc gặp của Mỹ bên lề ASEAN 19 nhằm “làm sâu sắc” hơn quan hệ giữa Washington với những nước châu Á - Thái Bình Dương đã ký hiệp ước đồng minh với Mỹ. Mà như lời Ngoại trưởng Clinton, “các nước này thúc đẩy sự có mặt của chúng tôi trong khu vực và thúc đẩy sự lãnh đạo của Mỹ trong khu vực trong thời điểm các thách thức an ninh gia tăng”.
Theo Giáo sư Yakov Berger, chuyên gia Viện Viễn Đông - Nga, người Mỹ luôn hiểu rằng, để thực hiện được mục tiêu biến châu Á – Thái Bình Dương thành “kỷ nguyên của Mỹ”, Washington cần thực thi nhiều biện pháp nhằm hạn chế tối đa sự tăng trưởng kinh tế cũng như ảnh hưởng địa chính trị ngày càng tăng của Trung Quốc tại khu vực này.
Trong đó, củng cố và thắt chặt quan hệ với 5 quốc gia đồng minh, tiếp cận và xây dựng quan hệ đối tác tốt với các nước Ấn Độ, Indonesia, Singapore, New Zealand, Malaysia, Mông Cổ, Việt Nam, Brunei và các nước hải đảo ở Thái Bình Dương… được ưu tiên hàng đầu. Thực tế, những nước mà Mỹ cho là đồng minh và “cần quan tâm đặc biệt” chính là một vòng cung kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Điều đó thống nhất với những luận điểm rằng: Để kiểm soát được châu Á – Thái Bình Dương, Washington phải kiềm chế thành công Bắc Kinh.
Luận điểm trên càng có cơ sở khi mà ngay trước khi rời Nhà Trắng thực hiện chuyến công du tới châu Á – Thái Bình Dương, Tổng thống Barack Obama đã phê chuẩn đề xuất của Lầu Năm Góc thành lập phòng đặc biệt chuyên trách vấn đề đối phó với Trung Quốc. Mục tiêu của văn phòng này là nghiên cứu tấn công Trung Quốc bằng đường biển và trên không, từ vũ trụ và không gian mạng, đánh chặn tên lửa chống vệ tinh và bắn phá chiến hạm.
Theo ông Alexei Arbatov, Giám đốc Trung tâm an ninh quốc tế IMEMO - Viện Hàn lâm Khoa học Nga, đây là bước ngoặt cơ bản đầu tiên của Mỹ trong việc thực thi chiến lược quân sự hướng vào châu Á – Thái Bình Dương, mà cụ thể là hướng vào cuôc chạy đua cạnh tranh tầm ảnh hưởng trong khu vực với Trung Quốc.
3. Trung Quốc khuyên Mỹ tránh xa châu Á - TBD

Thứ Tư, 16 tháng 11, 2011

Trung Quốc và thế giới

1. Mỹ, Nhật, Ấn họp bàn đối phó với Trung Quốc
Nhật, Ấn Độ và Mỹ trong năm nay sẽ mở một cuộc đối thoại chiến lược 3 bên về các vấn đề an ninh và kinh tế, gồm cả các biện pháp đối phó với việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh hải quân.
Các nguồn tin cho hay, cuộc họp sẽ tiến hành vào nửa đầu năm nay chỉ gồm các quan chức cấp cao và tiếp theo đó là cuộc họp cấp bộ trưởng được tiến hành sau đó càng sớm càng tốt.
Quan chức 3 nước sẽ thảo luận một loạt vấn đề, gồm an ninh, chống khủng bố, hợp tác kinh tế và năng lượng. Cuộc họp cũng sẽ bàn về kế hoạch lập các quy định quốc tế càng sớm càng tốt ở những lĩnh vực như an ninh đường biển, phát triển ở ngoài không gian và sử dụng Internet.
Ba quốc gia muốn nhất trí về các quy định và thúc đẩy các tiêu chuẩn quốc tế trong tương lai, thông qua khung đa phương như hội nghị thượng đỉnh Đông Á, các nguồn tin cho hay.
Vấn đề an ninh đường biển sẽ gồm các biện pháp chống lại các mối đe dọa khủng bố và đương đầu với việc Trung Quốc mở rộng sức mạnh hải quân. Trung Quốc hiện có tranh chấp về lãnh thổ với Việt Nam và Philippines và nước này đã phái tàu hải quân tới những vùng biển tranh chấp dưới cái gọi là bảo vệ tàu cá của nước này đang hoạt động tại những vùng trên.
Nhật, Ấn và Mỹ sẽ cùng nhau kêu gọi Trung Quốc tôn trọng các quy định quốc tế vì Washington, đang nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tự do trên biển, ngày càng lo lắng về các hoạt động hải quân của Trung Quốc trong vùng.
Tokyo và New Delhi hiện cũng có tranh chấp với Trung Quốc ở biển Hoa Đông và Ấn Độ Dương.
Một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao Nhật cho biết, một số thành viên chính phủ đang cân nhắc việc sử dụng quan hệ 3 bên: Nhật, Hàn và Mỹ, Nhật, Australia và Mỹ, Nhật, Ấn Độ và Mỹ để đối phó với việc Trung Quốc đang bành trướng ảnh hưởng trong vùng.
2. Giúp khối euro: Châu Âu bác bỏ điều kiện của Trung Quốc
Hãng Reuters, ngày hôm qua, 11/11/2011 đưa tin: Châu Âu bác bỏ các điều kiện của Trung Quốc để đổi lấy sự hỗ trợ về tài chính đối với khu vực đồng euro. Bruxelles từ chối xóa bỏ cấm vận vũ khí đối với Bắc Kinh.
Thông tín viên Joris Zylberman từ Bắc Kinh gửi về bài tường trình :
« Kể từ khi châu Âu cầu cứu cộng đồng quốc tế tài trợ khoản nợ công của các thành viên khối euro, Trung Quốc làm cao. Đó là điều rõ ràng ngay từ đầu. Bắc Kinh chỉ ra tay cứu châu Âu với một số điều kiện. Vấn đề là những đòi hỏi của Trung Quốc đã đi quá xa. Theo một số nguồn tin thân cận với chính quyền Trung Quốc thì trước mắt phía châu Âu bác bỏ toàn bộ những yêu sách của Bắc Kinh.
Dường như là Liên Hiệp Châu Âu không chấp nhận xóa bỏ cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc. Biện pháp trừng phạt này đã được ban hành từ sau vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989. Bruxelles cũng không công nhận Trung Quốc là một nền kinh tế thị trường. Cuối cùng thì trước mắt châu Âu cũng chưa đồng ý để đơn vị tiền tệ Trung Quốc tham gia vào rổ tiền tệ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF với lý do là châu Âu và Hoa Kỳ lo ngại việc mở rộng quyền rút vốn đặc biệt của IMF cho Trung Quốc thì sẽ làm suy yếu vị thế của đồng đô la và qua đó làm giảm ảnh hưởng của cả châu Âu lẫn Hoa Kỳ trên bàn cờ tài chính quốc tế.
Theo Reuters, một nhà ngoại giao châu Âu xin được giấu tên, đã rất bực mình về những mặc cả của Trung Quốc và quan chức này tuyên bố rằng khối euro không bắt buộc phải năn nỉ Bắc Kinh tài trợ. Chỉ cần quyết tâm về mặt chính trị là khu vực đồng euro có thể vượt qua cuộc khủng hoảng hiện nay.
Nhìn từ Bắc Kinh, thất bại trong các cuộc thương thuyết với phía châu Âu có thể khiến Trung Quốc nản chí. Chính quyền không muốn dư luận Trung Quốc cho rằng Bắc Kinh mền yếu trước áp lực của phương Tây ».
3. Bắc Kinh trong cuộc đào thoát vòng vây chiến lược Mỹ
Từ đầu thế kỉ XXI, khi thế lực của Trung Quốc tăng lên rõ rệt, Mỹ đã nhanh chóng thiết lập vòng vây chiến lược nhằm vào quốc gia đông dân nhất thế giới. Và tất nhiên, Bắc Kinh không ngồi yên nhìn mình bị bao vây.
Từ năm 2000, cùng với việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), lo ngại về "mối đe doạ từ Trung Quốc" tăng lên; Mỹ đã thiết lập vòng vây chiến lược nhằm vào Trung Quốc từ ba phía: đông, tây và nam. Trung Quốc cũng áp dụng nhiều biện pháp ứng phó với vòng vây chiến lược của Mỹ từ những phía này.
Tuy nhiên, hiệu quả tại mỗi phía có sự khác biệt.
a. Khu vực Đông Bắc Á
Tại khu vực Đông Bắc Á, Hàn Quốc và Nhật Bản là quốc gia đồng minh của Mỹ, còn Triều Tiên luôn giữ thái độ chống Mỹ. Do đó, nếu Triều Tiên không đứng về phía Mỹ, vòng vây Trung Quốc của Mỹ tại khu vực Đông Bắc Á về cơ bản khó lòng siết chặt.
Trước đây, Mỹ từng liệt Triều Tiên vào quốc gia “trục ma quỷ”, Triều Tiên cũng coi phát triển vũ khí hạt nhân là át chủ bài để đạt được nhiều lợi ích hơn nữa. Do đó, từ năm 2000, quan hệ Triều Tiên và Mỹ không có bước phát triển mới.
Vì vậy, với cả Mỹ và Trung Quốc, khu vực Đông Bắc Á về cơ bản là cố định, khó có xu hướng mở rộng.
b. Khu vực Đông Nam Á
Đông Nam Á là khu vực quan trọng trong đầu tư nước ngoài của Mỹ. Lợi nhuận trong đầu tư của Mỹ tại các nước Đông Nam Á cao hơn rất nhiều so với lợi nhuận bình quân hằng năm của các doanh nghiệp Mỹ tại nước ngoài. Ngoài ra, khu vực Đông Nam Á nằm ở tuyến đường quan trọng trong tuyến đường hàng hải quốc tế, tất cả tàu thuyền đi qua Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều phải đi qua vùng biển Đông Nam Á. Do đó, Washington phải đảm bảo quyền kiểm soát đối với khu vực Đông Nam Á.
Mỹ đã áp dụng 3 biện pháp đối với khu vực Đông Nam Á:
Thứ nhất, duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ tại khu vực tiền duyên, phát huy vai trò lãnh đạo trong an ninh tại khu vực với hậu thuẫn là sức mạnh quân sự .
Thứ hai , thông qua hợp tác phòng vệ dưới nhiều hình thức khác nhau, củng cố và tăng cường sự hiện diện quân sự đối với các quốc gia đồng minh truyền thống, mở rộng hơn nữa quan hệ quân sự với các nước phi đồng minh.
Thứ ba, thiết lập cơ chế an ninh đa phương lấy Mỹ làm trung tâm để bổ sung cho quan hệ song phương giữa Mỹ với các nước đồng minh.
Nhằm "hãm chân" Mỹ tại khu vực này, Trung Quốc cũng đã đưa ra không ít đối sách:
Thứ nhất, phá vỡ thế lưỡng nan an ninh, cao giọng về "môi trường xung quanh hoà bình, ổn định". Tháng 7/2003, phát biểu tại Hội nghị cấp cao Thương mại và đầu tư ASEAN, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đưa ra lời giải thích rõ hơn về chính sách ngoại giao láng giềng mà Trung Quốc nhất quán theo đuổi, đưa ra chủ trương “mục lân”, "an lân” và “phú lân” (thân thiện với láng giềng, ổn định với láng giềng và cùng làm giàu với láng giềng).
Thứ hai, tìm cách xoá bỏ hiệu ứng bất lợi của "thuyết mối đe doạ Trung Quốc" trên bình diện địa văn hoá. Nói một cách công bằng, trong giai đoạn khủng hoảng tiền tệ tại Châu Á vào năm 1997, việc Trung Quốc khăng khăng giữ giá đồng Nhân dân tệ đã có tác động tích cực, tránh khủng hoảng trong khu vực trở nên tồi tệ hơn.
Kết quả của cuộc tranh giành quyền lực giữa hai nước Trung – Mỹ tại khu vực Đông Nam Á là trong giai đoạn này, Mỹ không thiết lập quan hệ đồng minh quân sự với các quốc gia mới tại Đông Nam Á. Đồng minh của Mỹ vẫn là Philippines và Thái Lan. Tuy nhiên, Singapore đã trở thành quốc gia gần như đồng minh của Mỹ, Mỹ cũng đồng thời khôi phục quan hệ hữu hảo với các nước trong khu vực như Indonesia, Việt Nam.
Trong khi vòng vây Trung Quốc của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á có xu hướng mở rộng, thì chính sách của Trung Quốc đối với Mỹ bị giới phê bình trong nước của họ đánh giá là không có hiệu quả rõ rệt.
c. Khu vực Nam Á
Quốc gia có ảnh hưởng lớn nhất tại khu vực Nam Á là Ấn Độ. Sau chuyến thăm lẫn nhau của Thủ tướng hai nước Trung - Ấn vào năm 1988, quan hệ hai nước đã đi đến bình thường hoá. Đến năm 2005, hai nước đã thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược hoà bình và phồn vinh Trung - Ấn, hơn nữa đã xác lập hàng loạt đồng thuận về mở rộng toàn diện hợp tác hữu nghị giữa hai nước trên các lĩnh vực.
Nhưng song song với đó, quan hệ Ấn - Mỹ cũng phát triển đi vào chiều sâu. Từ năm 2001, quan hệ Mỹ - Ấn nhanh chóng ấm lên. Tháng 3/2005, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Condoleezza Rice chọn Ấn Độ là điểm đến đầu tiên trong chuyến thăm Châu Á. Cũng trong thời gian này, New Delhi công khai tuyên bố Mỹ sẽ giúp Ấn Độ trở thành nước lớn trên thế giới trong thế kỉ XXI.
Tháng 6 năm đó, trong chuyến thăm Mỹ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ấn Độ Pranab Mukherjee kí văn kiện hợp tác quân sự thu hút sự chú ý của mọi người - Văn kiện khung mới về hợp tác quốc phòng Mỹ - Ấn với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Donald Rumsfeld. Theo văn kiện này, Mỹ dành cho Ấn Độ hàng loạt những ưu đãi của quốc gia gần như đồng minh: cùng sản xuất vũ khí tiên tiến, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực phòng ngự tên lửa, dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu kĩ thuật quân sự nhạy cảm đối với Ấn Độ...
Xét ở tầng sâu, Mỹ thân với Ấn Độ hơn Trung Quốc. Ấn Độ có được những ưu đãi của quốc gia gần như đồng minh về vũ khí quân sự; trong khi đó, quan hệ Trung - Ấn lại chưa bước vào lĩnh vực hợp tác quân sự ở tầng sâu. Hơn nữa, quan hệ hữu hảo giữa Mỹ - Ấn được thiết lập trên tiền đề Mỹ giúp đỡ Ấn Độ phòng ngừa Trung Quốc. Do đó, Trung Quốc không bằng Mỹ trong việc lôi kéo Ấn Độ, thiết tưởng cũng là điều tất yếu.
Một ví dụ rõ rệt nữa cho thấy sự chuyển hướng của 2 nước lớn ở Nam Á là quan hệ với Pakistan - một đồng minh chiến lược truyền thống của Mỹ trong khu vực này. Tranh thủ sự "hờn dỗi" của Pakistan trong vụ Mỹ tự ý tiêu diệt Bin Laden trên lãnh thổ nước này làm bộc phát những mâu thuẫn tiềm ẩn giữa 2 nước, Trung Quốc đã nhanh tay có hàng loạt động thái thắt chặt thêm quan hệ với quốc gia này thông qua các hoạt động hợp tác, viện trợ.
Theo New York Times, Pakistan là quốc gia có quan hệ chặt chẽ về quân sự với Trung Quốc, hiện có một lượng lớn kỹ sư quân sự Trung Quốc làm việc tại các căn cứ quân sự nằm sâu trong lãnh thổ Pakistan. Các quan chức Pakistan thậm chí còn đồng ý việc Hải quân Trung Quốc đặt căn cứ của mình tại bờ biển Pakistan.
d. Khu vực Trung Á
Thuyết địa chính trị của Mackinder coi Trung Á là trái tim của đại lục Á - Âu: “Ai chiếm được trung tâm đại lục Á - Âu sẽ chỉ huy được quần đảo Thế giới, ai chỉ huy được quần đảo Thế giới sẽ thống trị cả thế giới”.
Mỹ tất nhiên không bỏ qua Trung Á, vùng đất vừa giàu tài nguyên vừa có vị trí chiến lược. Từ năm 1995, Mỹ và NATO lần lượt tổ chức tập trận chung với Ấn Độ. Đồng thời, Mỹ cung cấp gói viện trợ quân sự trực tiếp trên 30 triệu USD cho quân đội 3 nước Kazakhstan, Kyrgyzstan, Uzbekistan.
Sau Sự kiện 11/9, Mỹ nhân cơ hội tấn công Afghanistan, áp dụng nhiều biện pháp đã có được cơ hội đóng quân lâu dài tại Trung Á. Các quốc gia như Kyrgyzstan, Uzbekistan, Kazakhstan, Tajikistan lần lượt kí thoả thuận mở rộng không phận và cung cấp sân bay quân dụng với Mỹ, tạo không gian cho sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Trung Á.
Trong khi đó, Trung Quốc cũng coi Trung Á là khu vực quan trọng cần mở rộng ảnh hưởng. Còn hình thức thực hiện mục tiêu này lại là Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (ШОС) do Trung Quốc chủ xướng dưới ngọn cờ bảo vệ an ninh quốc gia thông qua hợp tác chống khủng bố.
Từ kết quả cuộc tranh giành quyền lực giữa hai nước Trung – Mỹ tại khu vực Trung Á, có thể thấy, Trung Quốc buộc lòng phải thừa nhận sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Trung Á. Trên thực tế, vòng vây quân sự của Mỹ đối với Trung Quốc đã mở rộng.
Một cách tổng quát, dù liên tiếp có những động thái trên nhiều phương diện, Trung Quốc vẫn chưa thu được kết quả khả dĩ làm hài lòng giới phê bình và thoả mãn tham vọng của cầm quyền trong việc mở rộng ảnh hưởng, ứng phó với vòng vây chiến lược của Mỹ.
4. Nền kinh tế Trung Quốc đang đứng bên bờ sụp đổ
Các nhà kinh tế học Trung Quốc cho hay nền kinh tế Trung Quốc đang đi trên một con đường nguy hiểm và sẽ sớm phải trải qua một cuộc khủng hoảng còn nghiêm trọng hơn cả khủng hoảng nợ của châu Âu.
Kể từ khi chính phủ Trung Quốc tiến hành triển khai một loạt các chính sách "thắt chặt" nhằm kìm hãm thị trường bất động sản, giá cả nhà ở trong cả nước đều đã và đang giảm đáng kể. Trong khi đó, doanh thu từ việc bán đất – nguồn thu chính của các chính quyền địa phương – cũng đã giảm rõ rệt.
Vào cuối tháng 10, một số doanh nghiệp nhà đất Thượng Hải đã bất ngờ giảm từ 20 đến 40% giá nhà ở trong những khu xây dựng mới. Ngay sau đó, việc giảm giá này cũng lan rộng đến Bắc Kinh, Hàng Châu và Ninh Ba ở tỉnh Chiết Giang và Nam Kinh ở tỉnh Giang Tô. Những người mới mua nhà gần đây, thấy mình không may mắn vì những đầu tư của họ đột ngột bị mất giá, đã tổ chức kháng nghị đòi trả lại tiền.
Chấm dứt những khoản lợi nhuận khổng lồ
Một nhà phân tích làm việc tại Trung tâm nghiên cứu bất động sản Centaline Trung Quốc ở Thượng Hải đã chia sẻ với tờ Thời báo Đại Kỷ Nguyên rằng: "Việc giảm giá ở Thượng Hải mới chỉ là sự khởi đầu, thời gian tồi tệ nhất sẽ là mùa xuân năm tới." Ông còn cho biết thêm rằng đến thập kỷ tới, thời kì của lợi nhuận khổng lồ của bất động sản sẽ không còn nữa.
Trong những sự kiện khác gần đây, nhà kinh tế học Xie Guozhong đã khẳng định rằng "Nếu Trung Quốc tiếp tục áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt này, nhiều doanh nghiệp bất động sản sẽ bị phá sản" và "việc giảm 50% giá trị bất động sản trong tương lai sẽ là một quy chuẩn ở Trung Quốc."
Ông Xie cho biết, lượng dư thừa lớn số nhà ở chưa bán được sẽ chỉ có thể được thị trường tiêu thụ khi giá cả giảm xuống đến mức mà những người mua nhà lần đầu tiên có thể chi trả được, điều đó có nghĩa là sẽ giảm giá đáng kể.
Hạ nhiệt thị trường đất đai
Trên khắp Trung Quốc, việc bán đất của chính phủ cũng đã được hạ nhiệt và do đó, thu nhập của chính quyền địa phương từ việc bán đất đã giảm đột ngột. Thành phố Chu Hải ở tỉnh Quảng Đông là một ví dụ.
Theo tờ Southern Metropolis Daily (Nhật báo Đô thị phương Nam), những dữ liệu do Sở tài chính thành phố Chu Hải đưa ra đã cho thấy rằng phí chuyển nhượng đất đai trong 3 quý đầu tiên của năm nay đã giảm một cách đáng kể. Trước đó, ước tính đạt được 8,8 tỷ nhân dân tệ (1,4 tỷ đô la Mỹ), Sở tài chính đã điều chỉnh xuống còn 5 tỷ nhân dân tệ (788,65 triệu đô la Mỹ) tức là giảm 3 tỷ nhân dân tệ (473,2 triệu đô la Mỹ)
Theo một phân tích khác của tờ báo First Financial Daily, doanh thu từ việc bán đất ở thành phố Chu Hải trong 10 tháng đầu năm 2010 đạt 20,39 tỷ nhân dân tệ (3,22 tỷ đô la Mỹ), chiếm 24% GDP của thành phố và tăng 14 lần so với năm trước. Trái lại, doanh thu đất đai trong 10 tháng đầu năm 2011 chỉ vừa bằng một nửa con số đó.
Ngày 1 tháng 11, thành phố này đã bắt đầu triển khai một hạn chế mới trong việc mua bán và giá cả nhà ở. Rất nhiều doanh nghiệp cho rằng đây chính là ngòi kích hoạt cho một làn sóng giảm giá bất động sản mới.
Khủng hoảng tài chính sắp xảy ra
Ông Cheng Xiaonong, nhà kinh tế học làm việc tại trụ sở ở Hoa Kỳ chia sẻ với thời báo Đại Kỷ Nguyên rằng giá nhà ở giảm 30% trong một thời gian ngắn chính là dấu hiệu cho thấy khủng hoảng tài chính sắp tấn công Trung Quốc.
Ông Cheng cho biết: "Khi bong bóng nhà đất nổ tung và những nhà phát triển phá sản, các ngân hàng sẽ phải vật lộn với lãi suất mặc định cao và những món nợ xấu, gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính trong cả hệ thống ngân hàng."
Ông Cheng cho hay trong vòng 1 năm tới, Trung Quốc sẽ phải trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hơn cả cuộc khủng hoảng nợ châu Âu. Ông nói: "Thực ra thì một cuộc khủng hoảng tài chính đã nổ ra ở Trung Quốc rồi".
Ông Chen Zhifei, giáo sư kinh tế của trường Đại học thành phố New York chia sẻ với Đài truyền hình Tân Đường Nhân rằng việc giảm nhanh chóng cả giá nhà ở và đất đai sẽ dẫn đến doanh thu bán đất của chính quyền địa phương giảm đi rõ rệt và các chính quyền địa phương sẽ bù phần thiếu hụt ấy bằng việc đánh thuế.
Ông Cheng nói rằng việc đánh thuế như vậy sẽ dẫn đến các cuộc biểu tình lớn và bất ổn xã hội như chúng ta đã được chứng kiến gần đây ở Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang ở miền Đông Trung Quốc nơi diễn ra một cuộc biểu tình lớn chống thuế thu hút sự chú ý của toàn thế giới.
Nhà kinh tế học và cũng là một tác giả, He Qinglian đã nói với tờ Thời báo Đại Kỷ Nguyên rằng bong bóng bất động sản Trung Quốc lẽ ra đã nổ tung từ năm 2008. Nhưng khi đó, chính quyền Trung Quốc đã đưa ra gói kích cầu giá trị 4 nghìn tỷ nhân dân tệ (630,93 tỷ đô la Mỹ) để cứu lấy nền kinh tế và một nửa số tiền đó dành cho thị trường bất động sản và các lĩnh vực liên quan, nhờ đó đã trì hoãn thời gian nổ tung của bong bóng bất động sản này.
Bà He nói: "Việc bong bóng nổ tung vào thời điểm hiện tại, thiệt hại do nó gây ra và tác động tiêu cực của nó đối với nền kinh tế Trung Quốc làm cho chính quyền Trung Quốc gặp khó khăn hơn nhiều khi giải quyết bây giờ."
Bà He cho hay vụ nổ bong bóng này cũng đem đến cho nền kinh tế Trung Quốc một cơ hội để điều chỉnh cơ cấu kinh tế và các chính quyền địa phương nên thắt lưng buộc bụng kể từ khi doanh thu bán đất giảm sút.
Bà nói thêm "tuy nhiên, họ sẽ tăng thuế để tăng thu nhập của họ, và nền kinh tế Trung Quốc do đó sẽ chẳng bao giờ đi đúng đường".
Bà He nói rằng sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc chỉ là một sự thịnh vượng giả tạo với cái giá phải trả là sự hủy hoại môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Là công xưởng của thế giới, Trung Quôc không hề có những sản phẩm mang nhãn hiệu của riêng mình. Thêm vào đó, Trung Quốc lại phụ thuộc nặng nề vào các mặt hàng xuất khẩu phục vụ cho nhu cầu năng lượng và có rất ít tài nguyên thiên nhiên để có thể xuất khẩu ngoại trừ những kim loại đất hiếm. Hơn nữa, với dân số nông dân đông nhất trên thế giới, Trung Quốc lại không thể duy trì tự cung tự cấp trong sản xuất lương thực.
Về một số ý kiến của các nhà kinh tế cho rằng thị trường bất động sản sụp đổ sẽ dẫn đến nền kinh tế Trung Quốc "hạ cánh bắt buộc", bà He cho biết: "Nền kinh tế Trung Quốc chưa bao giờ cất cánh, do đó sẽ chẳng có chuyện gì gọi là hạ cánh cả. Quả thật vậy, nền kinh tế Trung Quốc giống như một con tàu siêu tốc không thể điều khiển được nữa và nó có thể trật bánh bất cứ lúc nào".

(Theo The Epoch Times)

Thứ Ba, 15 tháng 11, 2011

Kinh tế Việt Nam

1. “Sóng ngầm” thị trường tiền tệ
Trước tình thế khó khăn thanh khoản, một số NHTM không chỉ “liều mạng” vượt trần lãi suất huy động tiền đồng mà còn áp dụng nhiều “chiêu” kỹ thuật mới để giải quyết thanh khoản trước mắt.
Dòng vốn huy động tiền đồng của hệ thống NHTM vẫn sụt giảm mạnh dù thị trường vàng đã có dấu hiệu hạ nhiệt.
Vốn đã khan lại không thông
Chị Thanh Vân ở quận Tân Bình, TPHCM, cho biết cuối tuần qua một nhân viên của NH V. có hội sở chính ở Hà Nội đã gọi điện mời chào gửi tiền với lãi suất cao.
Theo đó, nếu gửi 1 tỷ đồng trở lên có thể thỏa thuận lãi suất lên đến 18%/năm, trên sổ tiết kiệm vẫn ghi 14%/năm nhưng NH trả trước tiền mặt 4%, còn lại lãi suất 14%/năm sẽ trả vào ngày đáo hạn sổ tiết kiệm.
Chị V. từng là khách hàng tiền gửi của NH này nên dựa vào danh sách khách hàng cũ nhân viên NH liên hệ để mời chào.
Thực tế không chỉ NH V., một số NHTM nhỏ ở TPHCM cũng đang chạy đua hút vốn cuối năm thông qua hàng loạt chương trình khuyến mại, mang lại cơ hội trúng thưởng khá cao cho người gửi tiền số lượng lớn.
Dù các NHTM này đều cho rằng cộng dồn lãi suất và khuyến mại họ không vượt trần, nhưng với cơ cấu các giải thưởng đa dạng khó có thể xác định được mức lãi suất thực khách hàng nhận được.
Theo Trưởng phòng nguồn vốn một NH nhỏ, dù biết rằng lách lãi suất đang bị NHNN cấm và sẽ xử lý mạnh tay, nhưng trong tình thế thanh khoản căng thẳng hiện nay NH cũng phải “đánh quả” liều trên thị trường tiền gửi.
Cuối tuần qua, NHNN cho biết tổng số tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng đến ngày 20-10 ước giảm 0,74% so với tháng trước. Trong đó tiền gửi VNĐ giảm 1,29%, tiền gửi ngoại tệ tăng 1,73%.

điều này cho thấy dòng vốn tiền đồng đang thực sự căng thẳng. Một lãnh đạo NH cho biết cuối năm nhu cầu vốn vay tiền đồng rất cao nhưng NH phải ngừng cho vay vì vốn huy động sụt giảm. Hiện nay, vay liên NH kỳ hạn 1 tháng ít nhất 25%/năm, nếu cho vay ra nền kinh tế lãi suất ít nhất 27-28%/năm.
Như vậy, cửa vay lãi suất rẻ cuối năm không thể có. Mặc dù lạm phát giảm nhưng lãi suất cho vay không thể giảm vì dòng vốn đã khan lại không thông. Bởi thị trường liên NH hiện nay không khác nào bị “cô lập”, chủ yếu dành cho một số NHTM lớn và NHTM bậc trung vay. Điều này làm cho các NHTM nhỏ đã thiếu vốn càng thiếu hơn.

“Diễn biến thị trường liên NH thời gian qua có thể không như mong muốn của NHNN. Nhưng người nhịn đói 1-2 ngày thì được, nếu nhịn quá lâu thì sẽ bệnh nặng. NHTM nhỏ thời điểm này cũng vậy, nếu để quá lâu mà không can thiệp kịp thời, rủi ro thanh khoản càng lớn. Lúc đó NHNN sẽ phải tốn nhiều vốn hơn để can thiệp” - vị lãnh đạo này nói.
Khát VNĐ vòng qua vàng
Hiện nay, huy động chứng chỉ vàng kỳ hạn ngắn dưới 1 năm không phải xin phép NHNN, nhưng đến ngày 1-5-2012 các NHTM sẽ phải dừng huy động hình thức này. Tuy nhiên, nhiều NHTM vẫn huy động chứng chỉ vàng kỳ hạn 364 ngày, thay vì 1 năm là 365 ngày.

Đặc biệt gần đây lãi suất huy động vàng một số NHTM tiếp tục khá nóng, 2,7-3,2%/năm. Nếu tính luôn các chương trình khuyến mại, lãi suất chứng chỉ vàng lên đến 3,5-4%/năm.
Như vậy từ đầu tháng 11 đến nay các NH đã tăng lãi suất huy động vàng thêm 0,5-1,5%/năm so với trong tháng 10. Theo Thông tư 11 của NHNN, các NHTM huy động chứng chỉ vàng để giải quyết trạng thái vàng do lượng vàng đã cho vay chưa thu hồi hết. Siết mạnh trần lãi suất huy động VNĐ, trong khi các NHTM lại tăng lãi suất huy động vàng đã vô tình kích thích người dân đổ tiền mua vàng cuối năm, vừa đảm bảo đồng vốn không bị mất giá vừa hưởng lãi suất cao. Điều này đi ngược với mục tiêu hạn chế người dân đầu cơ và cất giữ vàng. Chưa kể, nếu các NHTM sử dụng vàng để xử lý thanh khoản có nguy cơ rủi ro nếu giá vàng thế giới biến động tăng cao.

Chuyên gia ĐINH THẾ HIỂN
Nhưng thực tế tại nhiều NHTM vàng đang là “cứu tinh” thanh khoản VNĐ. Theo đó, vay vốn VNĐ trên thị trường liên NH có vàng thế chấp, các NHTM nhỏ sẽ được vay 90-95% quy theo giá vàng tại thời điểm vay.
Nhiều NHTM tính toán chịu lãi suất vàng 3-4%/năm nhưng NHTM có thể chủ động giải quyết được thanh khoản trước mắt. Thậm chí, có NH nhỏ sẵn sàng bán đứt vàng huy động cho 7 NHTM được bán vàng bình ổn khi thiếu vốn tiền đồng.
Theo số liệu của NHNN chi nhánh TPHCM, tín dụng vàng tính đến cuối tháng 9-2011 hơn 800.000 lượng vàng, tương đương với dư nợ trên 35.000 tỷ đồng.
Trong khi số vốn vàng huy động cùng thời điểm này trên 96 tấn, tương đương 110.000 tỷ đồng. Điều này cho thấy ngoài vàng tồn quỹ (giữ hộ), với số vốn vàng huy động trên các NHTM đủ khả năng giải quyết thanh khoản tín dụng vàng từ nay đến tháng 5-2012.
Nhưng nhìn tổng thể từ các số liệu huy động vốn của cả hệ thống, có thể thấy sự chuyển dịch từ VNĐ sang USD và vàng khi trần lãi suất huy động VNĐ bị siết. Nguy cơ này có khả năng tiếp diễn đến cuối năm khi lãi suất vàng tăng nóng.
Hiện tại, NHNN vẫn chưa áp một mức trần nào với chứng chỉ huy động vàng ngắn hạn. Nhưng theo nguồn tin của ĐTTC, tới đây NHNN sẽ thanh tra những NHTM nào đẩy lãi suất huy động vàng lên quá nóng và bán vàng trái quy định.
Bởi theo quy định của NHNN, tín dụng vàng từ đầu năm đến nay ở các NHTM không được phát sinh mới mà chủ yếu là xử lý những khoản nợ cũ.
2. Vốn 'ngoại' lạnh nhạt với BĐS Việt Nam
Xếp cuối bảng trong thu hút đầu tư
Đói vốn do ngân hàng siết mạnh tín dụng đã trở thành nỗi ám ảnh lớn nhất của thị trường bất động sản (BĐS) năm 2011. Như là một hệ quả tất yếu của quãng thời gian tăng trưởng nóng, nặng tính đầu cơ, "ăn xổi", càng về các tháng cuối năm, khi nguồn tín dụng cho vay đối với BĐS càng cạn kiệt, cũng là lúc xuất hiện những câu chuyện chưa từng có tiền lệ.
Chưa đến mức có nhà buôn phải "nhảy lầu" như một dự báo đen tối, nhưng thị trường đã chứng kiến các vụ vỡ nợ hàng trăm tỷ đồng của nhiều đại gia buôn đất máu mặt tại Hà Nội; kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm bết bát, thua lỗ của hàng loạt tập đoàn, doanh nghiệp xây dựng, kinh doanh BĐS, rồi trào lưu bán tháo sản phẩm căn hộ để thu hồi vốn đáo hạn ngân hàng tại phía Nam.
Vai trò của một thị trường BĐS phát triển lành mạnh, bền vững có tác động đầu kéo quan trọng đối với cả nền kinh tế nên tìm vốn cho BĐS đã là chủ đề thu hút nhiều ý kiến, giải pháp. Khi mô hình các quỹ, các công cụ tài chính cho BĐS vẫn đang được tìm hướng khai thông thì trong tầm tay nhất, huy động vốn trong dân, huy động nguồn vốn nước ngoài ngay từ đầu đã được một số chuyên gia "mách nước".
Nếu như dòng tiền của các nhà đầu tư cá nhân vào BĐS đã khựng lại chờ đợi thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài dành được nhiều kỳ vọng. Nhất là bối cảnh 3 năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát ở Mỹ, kinh tế, đặc biệt là tại các thị trường mới nổi châu Á đã hồi phục và đi lên nhanh chóng, hoạt động đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận từ BĐS ngoài lãnh thổ cũng gia tăng.
Giữa bối cảnh đó, một kết quả khảo sát tâm lý của các nhà đầu tư BĐS quốc tế do Colliers International công bố hồi tháng 10/2011 cho thấy, mặc dù các nhà đầu tư BĐS châu Á được xếp vào diện thận trọng nhất thế giới ở mức độ chấp nhận rủi ro, song phần lớn họ lại bày tỏ sự lạc quan khi rót tiền của mình vào BĐS. Bằng chứng là con số 65% nhà đầu tư châu Á khi được hỏi dự định sẽ mở rộng danh mục đầu tư BĐS trong 6 tháng tới.
Các phân khúc hấp dẫn nhất được đề cập, không thấy có BĐS Việt Nam. Theo ông Piers Brunner - một CEO của hãng tư vấn tiếp thị này, các nhà đầu tư châu Á ưu tiên hàng đầu đó là BĐS văn phòng tại Bắc Kinh và Thượng Hải, tiếp đó là BĐS nhà ở và văn phòng tại Ấn Độ. Đứng thứ ba là BĐS công nghiệp tại Singapore và Trung Quốc.
BĐS Việt Nam luôn được đánh giá là thị trường còn non trẻ khi quy mô nhỏ bé, tiềm năng phát triển dài hạn dồi dào nhưng vốn FDI từ đầu năm vào BĐS đã giảm mạnh nhất trong 5 năm trở lại đây và sự lạnh nhạt hiện tại của dòng vốn "nóng", nguyên nhân có phải xuất phát từ chính sự kém thu hút của thị trường BĐS?
Mất điểm về lợi nhuận
Nói về sức thu hút của thị trường BĐS Việt Nam qua con mắt các nhà đầu tư nước ngoài, ông Đ.V.Q - một nhà tư vấn chiến lược đầu tư có lần chia sẻ quan sát, câu đầu tiên mà nhiều đối tác nước ngoài quan tâm tìm hiểu trước khi đầu tư vào thị trường là làm thế nào để chuyển được tiền ra khỏi Việt Nam sau thời gian kinh doanh. Tiếp đó mới tính đến mức lãi bao nhiêu.
Tuy nhiên, đáp ứng được mức lãi kỳ vọng của các nhà đầu tư trong bối cảnh kinh tế khó khăn, lạm phát gia tăng, tụt hạng tín dụng và tín nhiệm quốc gia dẫn đến chi phí vốn vay gia tăng, quả là bài toán hóc búa.
Vị này dẫn giải, trước đây khi chưa xảy ra vụ đổ vỡ của Tập đoàn Vinashin, trái phiếu Chính phủ bán ra nước ngoài là 7,5%; cách đây không lâu ngành công nghiệp Than và Khoáng sản phát hành trái phiếu quốc tế dự kiến tăng chí phí vay vốn của doanh nghiệp lên con số 11,5%. Điều này có nghĩa là nhà đầu tư chỉ cần ngồi ở nước sở tại, bỏ tiền cho vay cũng đã được hưởng mức lãi trên.
Còn nếu đến Việt Nam đầu tư, lợi nhuận kỳ vọng của họ phải cao hơn nữa. Cụ thể, với lạm phát lên đến 20%/năm hiện nay, cùng với chi phí huy động vốn vay quốc tế là 11,5%, thì mức lãi tài chính đơn thuần sau thuế, chưa kể tài chính vận hành tối thiểu phải đạt 31,5%/năm.
"Cái gì đầu tư kinh doanh theo mô hình công ty mà có mức lãi như vậy? - Chưa kể, ngoài khoản tiền khi mang vào Việt Nam đầu tư, họ phải vay thêm vốn với lãi suất cao trên 20% và các chi phí ngầm khác. Đó là lý do chúng ta khó thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hiện nay" - ông Đ.V.Q phân tích.
Rủi ro cao
Không chỉ từ những yếu kém của nền kinh tế nói chung dẫn đến hạn chế trong việc thu hút dòng vốn nước ngoài, từ góc độ của một chuyên gia trong lĩnh vực đất đai, ông Đặng Hùng Võ cho rằng, nói đến đầu tư kinh doanh BĐS tức là nói đến việc đầu tư vào đất đai lâu dài.
Tuy nhiên do chính sách đất đai của chúng ta chưa rõ ràng, nhiều vấn đề quan trọng như giao đất, sử dụng lâu dài, chuyển nhượng đất ở của các nhà đầu tư bất động sản nước ngoài còn để ngỏ, hiện vẫn phải chờ kết quả sửa đổi Luật đất đai vào năm 2013 nên không tạo được động lực trong đầu tư.
Thêm vào đó, nguy cơ tham nhũng, khó khăn trong tiếp cận đất đai nhất là tại các đô thị lớn cũng khiến các nhà đầu tư dù rất muốn vào cũng phải trì hoãn, e ngại.
Bằng kinh nghiệm tư vấn, tiếp thị của mình, ông Richard Leech - Giám đốc điều hành của CBRE Việt Nam đã hơn một lần nhấn mạnh rằng, rào cản đối với các nhà đầu tư BĐS nước ngoài khi đến Việt Nam là: có được khu đất, vị trí tốt rất khó khăn.
Nhưng khi đã xác định được lô đất rồi thì các thủ tục hành chính, pháp lý, quy trình cũng rất gian lao vất vả, tốn nhiều thời gian như giải phóng mặt bằng, ra được giấy phép đầu tư, kinh doanh.
"Tất cả những điều đó chỉ có thể bù đắp được khi có một kỳ vọng rất cao là tỷ suất thu lợi trên đồng vốn đầu tư (ROI). Còn trường hợp chỉ số ROI đó không đủ cao và hấp dẫn thì đương nhiên họ sẽ tìm đến các thị trường dễ dàng hơn trong tiếp cận các dự án BĐS" - ông Rechard Leech nói.
Ghi nhận của giới tư vấn đầu tư cho thấy, một - hai tháng trở lại đây bắt đầu có một số tập đoàn, quỹ đầu tư của Mỹ và châu Á, bao gồm cả tên tuổi đáng chú ý, như JP Morgan Chase, đến Việt Nam để tìm hiểu cơ hội rót vốn, hợp tác kinh doanh, mua lại dự án. Nhưng động thái nói trên mới chỉ là bước đầu và cơ hội chỉ tập trung vào những dự án có tính pháp lý cao.
Nói như vậy cũng không nghĩa hết hy vọng. Đại diện của CBRE cho rằng, các nhà đầu tư BĐS nước ngoài mặc dù rất cẩn trọng với thị trường hiện tại nhưng những nhà đầu tư có chiến lược phát triển dài hạn tại Việt Nam thì vẫn không ngừng quan tâm đến những tiến triển của thị trường cũng như của nền kinh tế.
Đơn cử trong lĩnh vực mặt bằng bán lẻ hiện đại thì hiện ghi nhận rất nhiều nhà bán lẻ, đầu tư BDS nước ngoài có nhiều quan tâm, tò mò muốn biết tiềm năng phát triển của thị trường này.
Theo ông Rechard Leech, với sự tò mò tìm hiểu ấy, một số họ đang và sẽ tiến hành những hoạt động đầu tư không trực tiếp thông qua các quỹ của Việt Nam hoặc đầu tư qua kết hợp liên doanh với các đối tác trong nước. Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể từ bước bắt đầu phát triển của một dự án hay cũng có thể ở giai đoạn sau khi dự án đang triển khai.

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2011

Vàng tăng vọt: Lung lay mục tiêu bình ổn

Giá vàng tăng mạnh trên thị trường thế giới, cộng với quyết định tăng tỷ giá liên tục của Ngân hàng Nhà nước khiến cho không ít DN kinh doanh vàng cho rằng, đang đến một giai đoạn căng thẳng của giá vàng. Với diễn biến này, chính sách bình ổn sẽ gặp nhiều khó khăn.
Khó nói thành công vì tỷ giá
Trong một thông báo gần đây, Ngân hàng Nhà nước thừa nhận, thị trường ngoại hối diễn biến chưa thực sự ổn định, tỷ giá giao dịch có xu hướng tăng. Nguyên nhân là do ảnh hưởng tâm lý trên thị trường vàng đã tác động đến thị trường ngoại hối.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia thì phải nói đúng hơn là do tác động từ thị trường vàng chứ không phải vì yếu tố tâm lý. Vì nếu chỉ do tâm lý, chắc cơ quan quản lý đã không phải liên tiếp tăng tỷ giá trong những ngày qua. Và tỷ giá không chỉ đang chịu sức ép từ vàng mà đang là điểm vướng để có thể khẳng định bình ổn giá vàng thành công hay không.
Tính toán về giá vàng tăng trong ngày 26/10, đại diện Công ty vàng bạc Bảo Tín Minh Châu cho rằng, quy đổi theo tỷ giá USD hiện tại, giá vàng thế giới hiện khoảng 43,22 triệu đồng/lượng. Tính cả thuế và các chi phí khác, giá vàng trong nước vẫn đắt hơn vàng thế giới trên 800.000 đồng/lượng. Tỷ giá mà DN này nhắc đến là tỷ giá giao dịch thực - hiện khoảng 21.800 đồng/USD, cao gần 1.000 đồng so với giá công bố.
Câu chuyện này đã từng lộ ra khi dư luận kháo rằng các DN kinh doanh vàng lãi lớn và khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới còn cao. Tuy nhiên, trong rất nhiều phản pháo từ phía các ngân hàng và SJC, chính đơn vị chủ lực này đã hé ra chuyện họ không thể mua USD theo giá niêm yết mà phải mua USD tương đương với giá tự do. Do vậy, giá vàng chẳng rẻ như tính toán theo giá chính thức công bố và DN không thể có lãi như thế.
Trong khi Ngân hàng Nhà nước liên tục "gào thét" siết chặt kỷ luật, chấn chỉnh thị trường ngoại hối và cho biết chưa phát hiện ra chuyện hai tỷ giá trong ngân hàng thì câu chuyện trên cũng không được xác thực. Thế là, cho đến thời điểm này, bình ổn giá vàng thật khó nói là thành công.
Bởi vì, nếu theo các DN, khoảng cách 800.000 đồng có thể xem là một kết quả rất tích cực, song thừa nhận điều đó chẳng khác nào cơ quan quản lý thừa nhận chuyện hai tỷ giá - hay đúng hơn bất lực trong trị "chợ đen" tỷ giá. Còn nếu cứ bám theo các tỷ giá chính thức thì khó mà nói thành công khi khoảng cách vẫn giữ ở mức trên 2 triệu đồng.
Tuy nhiên, theo nhiều DN kinh doanh vàng, đây chỉ vấn đề nhỏ, bề nổi của câu chuyện. Vấn đề đáng lo hơn chính là áp lực từ vàng đang dồn tỷ giá tăng lên. Khi các nguồn cân đối USD đang tốt lên, nhập siêu giảm mà tỷ giá lại được đẩy căng lên ngoài các yếu tố chu kỳ bình thường thì nhân tố vàng đang được nhấn mạnh.
Đại diện một ngân hàng quốc doanh cho biết, SJC không có nguồn ngoại tệ, các ngân hàng bình ổn vàng cũng không phải là mạnh nhất về nguồn ngoại tệ, trong khi họ lại đang cần một lượng để cân đối vàng trên tài khoản. Vì thế, DN buộc phải đi mua ngoài, nên khi nhu cầu tăng thì giá USD tăng. Đồng tình với điều này, một thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ quốc gia phân tích, bên cạnh các lý do như nhu cầu thanh toán hàng nhập khẩu tăng cao dịp cuối năm, các hợp đồng vay đôla đến hạn trả nợ, thì lý do chủ yếu xuất phát từ vàng.
DN vàng và ngân hàng bán vàng bình ổn sẽ ngay lập tức mua vàng trên tài khoản để cân đối. Việc này cần một lượng tiền để đặt cọc khoảng 10%. Số lượng vàng bán ra đã trên 15 tấn, tức là các ngân hàng và DN cũng phải mua qua tài khoản 15 tấn và đặt cọc số tiền cả trăm triệu USD. Bên cạnh đó, bán được vàng, họ cũng không dại giữ tiền mặt, mà đa số sẽ chuyển qua USD đồng thời chuẩn bị sẵn để khi được cấp phép nhập khẩu vàng vật chất. Nguồn cầu tăng lên, lập tức giá tăng theo.
Đặc biệt, theo chính các DN, khi tỷ giá tăng liên tục, và nhất là giá vàng đảo chiểu tăng mạnh như mấy ngày nay, các DN và ngân hàng này càng phải gom sẵn nhiều USD hơn để thủ thế. Thậm chí, nếu vàng còn tiếp tục tăng giá thì số tiền ký quỹ và tiền chuẩn bị để nhập vàng sẽ ép các đơn vị này vào thế khó, còn các ngân hàng khác có nguồn USD sẽ tranh thủ tăng giá kiếm lợi từ nhưng người được ở trong nhóm "lợi ích vàng".
Tất cả đều sẽ khiến USD thêm căng thẳng, và một khi tỷ giá chịu sức ép lớn từ vàng thì khó mà nói đến thành công của bình ổn, bên cạnh chuyện giá cả chưa thông, lợi ích trong nhón "bình ổn vàng" chưa minh bạch.
Bao giờ phải nhập vàng?
Tối 25/10, nhiều DN đứng ngoài nhóm "bình ổn vàng" lên tiếng kêu ca đòi hỏi sự minh bạch và bình đẳng quyền lợi. Đến sáng 26/10, sau cú đảo chiều tăng giá trên thị trường vàng thế giới, lên 60-70 USD và đà tăng còn tiếp diễn, nhiều người đã tỏ ra "hả hê" khi cho rằng những thuận lợi của bình ổn vàng sẽ không còn được như thời gian qua. Thực tế đã cho thấy, giá vàng trong nước đã tăng phi mã theo giá thế giới, USD cũng theo đó mà tăng lên.
Các nhà kinh doanh vàng cho biết, một lượng vàng lớn bình ổn được bán ra theo giá thấp. Đây là số vàng vay của người gửi. Chuyện đau đầu là, nay giá vàng tăng, họ buộc phải mua vào để trả lại với giá cao hơn. Hơn thế, với một lượng bán ra khá lớn nhưng nhu cầu chưa giảm, cơ hội mua lại vàng trong nước đang xa vời, trong khi giá thế giới đang tăng... Vấn đề đặt ra lúc này là bao giờ sẽ được nhập vàng?
Đến nay, lượng vàng bình ổn bán ra là hơn 15 tấn. Kể cả lúc giá vàng tăng hay giảm, người dân vẫn một chiều mua vào mà không có dấu hiệu bán ra. Số lượng này không quá nhiều so với lượng vàng người dân gửi trong các ngân hàng, nhưng điều đáng nói là vay vàng để bán thì phải mua để trả.
Việc mua để trả theo kịch bản là mua trong nước khi giá xuống nhưng việc này rất khó khi người dân chỉ mua mà ít bán, nhất là khi giá thế giới còn tăng thì dân còn mua vào. Một câu hỏi không được trả lời xuất hiện: Bao nhiêu vàng bán ra sẽ đủ bình ổn? Đây chính là nhân tố "tích trữ và găm giữ" của dân trong nước chưa được tính đủ khi thực hiện chính sách bình ổn. Và đến thời điểm này, khi giá vàng tăng mạnh điều này càng trở thành sức ép lớn.
Dường như các đơn vị bình ổn đang cảm thấy oải vì giá vàng tăng mà cơ hội mua vàng cân đối trong nước vẫn rất thấp. Điều mong chờ nhất chính là được nhập số vàng họ đã cân đối đầu tư qua tài khoản. Tuy nhiên, nếu vàng được nhập, tỷ giá sẽ chịu thêm thêm sức ép và khi sử dụng bài cũ nhập vàng để bán thì không nói là phá sản nhưng gói chính sách bình ổn đã không có nhiều tác dụng. Và có vẻ như, chuyện nhập khẩu sẽ buộc phải thực hiện vì các đơn vị bình ổn sẽ khó chấp nhận chịu rủi ro.
Theo một chuyên gia đến từ Hiệp hội Kinh doanh vàng, đến thời điểm này, sau hơn 20 ngày, có vẻ như mọi việc đang có thêm nhiều rắc rối hơn dự báo khi đưa ra chính sách bình ổn giá. Những ngày trước đây, khi giá vàng bình ổn, các DN trong nước đã không thể hạ giá vàng ngang bằng giá thế giới mà vẫn giữ giá với khoảng cách 2 triệu đồng. Dù họ có nhiều lý giải thì đây vẫn là một khoảng cách mang lại lợi nhuận lớn. Và điều này, đến nay vẫn chưa được minh bạch hóa và "lợi ích" hay "trách nhiệm" vẫn đang là một mối nghi ngờ lớn.
Nhưng bây giờ, khi giá vàng tăng, các đơn vị bình ổn đòi nhập vàng thì mọi chuyện đã có vẻ sáng rõ hơn. Khi họ bắt tay giữ giá thì lý giải là hạ từ từ và dự phòng các rủi ro từ giá thế giới. Nhưng giá tăng họ lập tức tăng rất mạnh và muốn nhập vàng càng sớm càng tốt để bảo vệ lợi ích cho mình trước xu thế vàng tăng giá. Xem ra, đằng nào DN cũng muốn an toàn và thu lợi còn những hậu quả lại dồn vào nhà nước.
15 tấn vàng đã được bán ra với giá cao hơn thế giới, lợi nhuận có thể đã được tính được. Không những thế, với "thẻ bài" bình ổn, chính các đơn vị này đang thực hiện thêm nhiều chiêu thức khác như tăng huy động vàng để bán ra thu lợi, chuyển hóa vàng qua tiền để tăng lợi nhuận... Và nay, nếu vàng được nhập khẩu, các đơn vị này lại có thêm nguồn để tiếp tục quay vòng và thu lợi lớn. Khi nào còn chênh lệch này còn thì các đơn vị bình ổn còn có cơ hội thu lợi từ... trách nhiệm bình ổn thị trường vàng. Trong khi, sức ép lên tỷ giá, giá vàng chênh lệch cao so với thế giới và còn xa với mục tiêu bình ổn... thì chưa thấy ai nói và ai truy trách nhiệm.

Exxon 'tìm thấy dầu ngoài khơi Việt Nam'

Tập đoàn ExxonMobil của Hoa Kỳ loan báo đã tìm thấy dầu khí ở ngoài khơi Việt Nam, gần đường yêu sách chủ quyền chín đoạn của Trung Quốc.
Báo Wall Street Journal (WSJ) trong bản tin gửi từ Houston, Texas, nơi Exxon Mobil đặt đại bản doanh, cho hay hãng này đã tìm thấy dầu sau mũi khoan thứ hai hồi tháng Tám ở ngoài khơi miền Trung Việt Nam.
Mũi khoan đầu tiên đã được thực hiện hồi tháng Tư nhưng không có kết quả.
WSJ dẫn lời một người phát ngôn của Exxon nói hôm thứ Ba 25/10 rằng các thông số thu được từ giếng khoan số hai nằm trong lô 119 ngoài khơi Đà Nẵng đã được chuyển đi phân tích tiếp.
Lô 119 nằm ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam, thuộc vùng biển các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Quảng Nam, rất gần đường chín đoạn mà Trung Quốc lập ra để đòi hỏi chủ quyền Biển Đông. Đường yêu sách này còn được gọi là đường 'lưỡi bò', bao quanh tới 80% diện tích Biển Đông.
Thông tin mới loan ra mang tầm quan trọng đặc biệt, không chỉ trong lĩnh vực dầu khí mà còn trong khía cạnh khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại khu vực.
Nó cũng cho thấy thái độ mạnh bạo của công ty Hoa Kỳ trong việc tiếp tục theo đuổi các dự án làm ăn với Việt Nam cho dù bị áp lực từ Trung Quốc.
Hồi tháng 7/2008, Trung Quốc đã gây sức ép buộc ExxonMobil ngừng dự án với Việt Nam tại khu vực mà Bắc Kinh nói là thuộc chủ quyền Trung Quốc.
Dự án bị Trung Quốc phản đối lúc đó nằm trên thềm lục địa phía Nam, gồm các lô 135 và 136, khu vực Tư Chính - Vũng Mây của bồn trũng Nam Côn Sơn. Exxon lúc đó không tuyên bố rút lui, nhưng sau đó cũng không có thêm thông tin gì về tiến độ dự án.
Trữ lượng dầu khí
WSJ nhận xét rằng nếu lượng dầu khí mà ExxonMobil tìm thấy quả thực có khả năng thương mại, thì đây là tin mừng cho Việt Nam, quốc gia trông chờ nhiều vào thu nhập từ dầu thô.
Tờ báo này nói đa số các mỏ dầu mà Việt Nam đang khai thác đều đã quá lâu năm và khó có thể thỏa mãn nhu cầu năng lượng và xuất khẩu ngày càng tăng.
Việt Nam đang là nước sản xuất dầu thô lớn thứ ba Đông Nam Á.
Tuy nhiên giới phân tích nói cần phải chờ xem trữ lượng tiềm năng của giếng khoan này là bao nhiêu.
WSJ dẫn lời phân tích gia Phil Weiss từ công ty Argus Research nói: "Khó có thể bình luận tầm quan trọng của phát hiện mới này khi chúng ta chưa biết trữ lượng, nhưng chắc chắn đây là tin tốt đối với Exxon vì khu vực khoan dầu được nhiều người cho là giàu tiềm năng".
Nhiều công ty nước ngoài đã tìm thấy dầu tại khu vực này, như Petroliam Nasional Bhd. của Malaysia, Premier Oil Plc. của Anh, Gazprom OAO của Nga và Total SA của Pháp.
Giếng khoan của ExxonMobil ở lô 119, nếu nhìn trên bản đồ trực tuyến mà chính Trung Quốc đưa ra, nằm hoàn toàn trên thềm lục địa của Việt Nam, nhưng cận kề một trong chín đoạn của 'đường lưỡi bò'.
Gần lô 119 là lô 120, mà Công ty thăm dò - khai thác dầu khí Neon Energy của Úc đã cùng đối tác Việt Nam thăm dò địa chấn hồi tháng Năm năm ngoái.
Lúc đó phía Việt Nam đã phải cử tàu hải quân ra hộ tống công việc thăm dò của Neon vì sợ phản ứng của Trung Quốc.
Ngoài lô 119, ExxonMobil còn có dự án thăm dò ở hai lô kế cận là 117 và 118, đều nằm trong vùng thềm lục địa miền Trung Việt Nam.
Tiềm năng dầu khí nếu được chứng thực ở các lô trên thềm lục địa Việt Nam có khả năng sẽ làm tranh chấp chủ quyền tại khu vực thêm gay gắt.
Bằng nhiều cách, Trung Quốc đã gây áp lực buộc nhiều công ty nước ngoài muốn làm ăn với Việt Nam phải rút lui.
Thế nhưng trong khi các hãng dầu như BP của Anh chấp nhận ngừng dự án, thì các công ty Mỹ, được tin là có hậu thuẫn của Washington, giữ thái độ kiên quyết hơn.

Jeffrey Nichols: Giá vàng sẽ về mức cao kỷ lục vào cuối năm

Ông là người có 2 dự báo cực kỳ chính xác về xu hướng giá vàng trong năm nay: Mốc 1.700 USD/ounce được chinh phục; và mất 300 USD/ounce từ mức đỉnh.
Jeffrey Nichols, chuyên gia phân tích kim loại quý kiêm giám đốc của American Precious Metals Advisors cho rằng giá vàng, hiện giao dịch quanh 1.700 USD/ounce sau khi rơi xuống đáy 1.540 USD/ounce hồi đầu tháng 10, có thể thiết lập đợt tăng mới và trở về mức kỷ lục trên 1.920 USD/ounce vào cuối năm nay.
Nichols là người có 2 dự báo chính xác về giá vàng mà đến nay thị trường rất trân trọng. Hồi cuối tháng 7, khi giá vàng vừa vượt 1.600 USD/ounce, ông dự báo thị trường có lực để vượt qua mốc 1.700 USD. Và cuối tháng 8, khi giá đạt đỉnh cao 1.900 USD/ounce, ông dự báo thị trường sẽ rớt 300 USD.
Trả lời phỏng vấn báo chí, Nichols cho biết: “Nợ công ở châu Âu sẽ tiếp diễn, là căn nguyên của mọi nỗi sợ hãi và hướng về nhu cầu vàng. Ngoài ra, sự đảo ngược về vị thế đầu tư của nhà đầu cơ trên thị trường phái sinh, cộng với những củng cố của giá trong tháng qua sẽ giúp vàng có lực đi tiếp”.
Nichols cho biết thêm ông không nghi ngờ sự sụt giảm gần đây của vàng là phát sinh từ sức mạnh của đồng USD, nhưng đồng thời nhấn mạnh sự điều chỉnh đó chỉ là tạm thời. “Nhu cầu đầu tư vàng thỏi và chứng chỉ của các quỹ ETF vàng vài ngày gần đây tăng mạnh. Có vẻ như vai trò an toàn và là nơi trú ẩn cuối cùng trong vàng vẫn được chọn, ngay cả khi dòng vốn đổ vào USD vẫn tiếp tục”, ông nói.
Jeff Nichols chỉ ra rằng, trong trường hợp cuộc khủng hoảng nợ của châu Âu tìm được giải pháp, thì sức mạnh của đồng USD sẽ bị xói mòn và các nhà đầu tư châu Âu sẽ vội vàng tìm về kim loại quý.
Mặt khác, nhu cầu vàng vật chất tiếp tục mạnh ở châu Á và người tiêu dùng nơi đây vẫn sẵn sàng mua vàng ở mức giá cao hơn. Mùa cưới, mùa lễ hội và lo ngại lạm phát sẽ chèo lái nhu cầu ở Ấn Độ, trong khi thu nhập cao hơn và sự giàu có cùng áp lực lạm phát tại Trung Quốc sẽ thúc đẩy người dân sở hữu vàng nhiều hơn.
Bạn muốn liên hệ với chúng tôi để được tư vấn xin vui lòng click here
Bạn muốn tham dự khóa học www.forex.edu.vn đăng kí tại đây
Theo Cafef - www.taichinhthegioi.net
Sofia@tpj.com.vn
Tag : Thế giới vàng , the gioi vang , chien luoc vang , chiến lược vàng , nhan dinh vang , nhận định vàng , forex , giao dịch vàng , giao dich vang , học forex ở đâu , hoc forex o dau , khóa học đầu tư , khoa hoc dau tu , học forex , hoc forex , forex là gì , forex la gi , forex việt nam , forex viet nam , vàng thế giới , vang the gioi , học cách giao dịch vàng , hoc cach giao dich vang , khoa hoc dau tu , khóa học đầu tư .
Thế giới vàng , the gioi vang , chiến lược vàng , nhan dinh vang , nhận định vàng ,forex , giao dịch vàng , giao dich vang , học forex ở đâu , hoc forex o dau ,khóa học đầu tư , khoa hoc dau tu , học forex , hoc forex , forex là gì , forex la gi ,forex việt nam , forex viet nam , vàng thế giới , vang the gioi , học cách giao dịch vàng, hoc cach giao dich vang , khoa hoc dau tu , khóa học đầu tư